Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo nhân dân tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997-2005)

04/10/2016

I. TÁI LẬP TỈNH VÀ THÀNH LẬP ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC, TẠO THẾ VÀ LỰC BƯỚC VÀO THẾ KỶ XXI (1997-2000)

Ngày 06/11/1996, kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX ra Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Trong đó, tỉnh Vĩnh Phú được tách thành hai tỉnh là: Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Sau 29 năm hợp nhất, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997.

Ngày 12/12/1996, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Quyết định số 135-QĐ/TW thành lập Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, đồng thời chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời tỉnh gồm 29 đồng chí, Ban Thường vụ Tỉnh ủy lâm thời gồm 9 đồng chí. Đồng chí Bùi Hữu Hải được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy lâm thời. Ngày 02/01/1997, tại Kỳ họp thứ nhất Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc khóa XII đã bầu đồng chí Nguyễn Xuân Thiết, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; bầu đồng chí Nguyễn Minh Đăng, Phó Bí thư Tỉnh ủy giữ chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Toàn Đảng bộ có 3,7 vạn đảng viên, sinh hoạt ở 474 Đảng bộ cơ sở.

Sau ngày tái lập tỉnh, Vĩnh Phúc có sáu đơn vị hành chính trực thuộc là thị xã Vĩnh Yên và năm huyện: Mê Linh, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Lập Thạch, Yên Lạc, với tổng số 148 xã, phường, thị trấn. Tổng diện tích 1.370,73km2. Ngày 09/6/1998, Chính phủ ra Nghị định số 36/NĐ-CP chia huyện Tam Đảo thành hai huyện mới là Tam Dương và Bình Xuyên. Tiếp đó, ngày 08/8/1999, Chính phủ ra Nghị định số 72/NĐ-CP điều chỉnh, mở rộng thị xã Vĩnh Yên, trên cơ sở sáp nhập thị trấn Tam Dương, thôn Lai Sơn thuộc xã Thanh Vân và khu Đồi Son thuộc xã Vân Hội của huyện Tam Dương vào thị xã Vĩnh Yên. Đến lúc này, Vĩnh Phúc có bảy huyện, thị và 150 xã, phường, thị trấn.

Sau khi tái lập, tỉnh Vĩnh Phúc có những thuận lợi căn bản. Trước tiên, việc tái lập tỉnh đáp ứng nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, tạo không khí hồ hởi, phấn khởi để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế-xã hội của địa phương. Quy mô, dân số và diện tích vừa phải, tạo điều kiện cho công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh được sâu sát, hiệu quả hơn. Nhân dân có truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong sản xuất và có kinh nghiệm trong việc đổi mới cơ chế quản lý. Nguồn lao động dồi dào, có trình độ văn hóa khá.

Vĩnh Phúc có nhiều danh lam, thắng cảnh vẫn giữ được môi trường sinh thái mà thiên nhiên ưu đãi như: Hồ Đại Lải, Đầm Vạc, Vườn quốc gia Tam Đảo, Tây Thiên…đó là những cơ sở, điều kiện để tỉnh phát triển ngành du lịch.

Vĩnh Phúc là tỉnh liền kề với thủ đô Hà Nội, gần sân bay quốc tế Nội Bài và là địa bàn chuyển tiếp giữa vùng trọng điểm kinh tế phía bắc với các tỉnh miền núi Bắc Bộ. Trên địa bàn tỉnh có các trục giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt đi các tỉnh và ra cảng biển Cái Lân. Đó là những tiềm năng lớn để Vĩnh Phúc thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển toàn diện, bao gồm công nghiệp, nông nghiệp, du lịch và dịch vụ, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa, xã hội.

Những thành tựu của đất nước và của tỉnh sau 10 năm đổi mới là cơ sở động lực để nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Vĩnh Phúc nói riêng thêm vững tin bước tiếp trên con đường đổi mới. Đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đề ra là những định hướng và tiền đề để Đảng bộ Vĩnh Phúc hoạch định đường lối phát triển kinh tế-xã hội.

Bên cạnh những thuận lợi, sau khi tái lập, tỉnh Vĩnh Phúc cũng phải đối  mặt với nhứng khó khăn, thách thức. Sau 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Vĩnh Phúc vẫn là tỉnh nghèo, với điểm xuất phát của nền kinh tế rất thấp. GDP bình quân đầu người chỉ bằng 48% so với bình quân chung cả nước. Kinh tế hàng hóa chậm phát triển. Sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu, chiếm 52.5% giá trị GDP. Dân số sống ở nông thôn chiếm 90%. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm, ít doanh nghiệp lớn và hầu hết đang gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh. Dịch vụ du lịch kém, khó khăn trong sản xuất, kinh doanh. Kinh tế hợp tác chậm được đổi mới, kinh tế ngoài quốc doanh quy mô còn nhỏ bé. Nguồn tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng còn nghèo nàn, chưa được khai thác hiệu quả.

Do mới tách tỉnh, nên cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng còn nghèo nàn. Trong khi đó, nhu cầu xây dựng lớn, nhưng nguồn tài chính còn hạn hẹp, thu ngân sách chưa đạt 100 tỷ đồng. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước cấp tỉnh mới được hình thành, thiếu cán bộ quản lý có kinh nghiệm, cán bộ khoa học kỹ thuật và lao động đã qua đào tạo.

Ngay sau khi tỉnh được tái lập, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh đã tập trung thảo luận và thống nhất ban hành quy chế làm việc, xây dựng quy trình làm việc của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã rà soát lại, hợp thức hóa những văn bản (nghị quyết, đề án) của tỉnh Vĩnh Phú đã ban hành và thống nhất nguyên tắc khi chưa có văn bản mới của tỉnh Vĩnh Phúc thì các văn bản cũ vẫn tiếp tục còn hiệu lực.

Từ sự phân tích những thuận lợi và khó khăn của một tỉnh mới thành lập, Tỉnh ủy lâm thời Vĩnh Phúc chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 1997, kế hoạch bốn năm 1997-2000 và định hướng chiến lược dài hạn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh từ năm 1997 đến năm 2010. Tỉnh ủy coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cán bộ, đảng viên. Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo chỉ đạo Ban Tuyên giáo sớm cho xuất bản "Bản tin sinh hoạt chi bộ", tích cực triển khai các nghị quyết của Trung ương; khẩn trương lãnh đạo kiện toàn tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và thành lập các sở, ban, ngành, đoàn thể; bố trí cán bộ lãnh đạo quản lý điều hành các công việc và tham mưu giúp Tỉnh ủy. Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định thành lập 72 đơn vị quản lý nhà nước, trong đó có 21 sở, ban, ngành, 51 đơn vị quản lý chuyên ngành, bổ nhiệm 50 giám đốc, phó giám đốc; điều động 809 cán bộ. Tỉnh ủy cùng với Ủy ban nhân dân tỉnh sắp xếp địa điểm làm việc cho các cơ quan tỉnh. Trong buổi đầu mới tái lập tỉnh, mặc dù còn có nhiều khó khăn, thiếu thốn, song tỉnh cố gắng bảo đảm những phương tiện, điều kiện cần thiết cho các cơ quan hoạt động.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã dành nhiều thời gian thảo luận, cho ý kiến về định hướng quy hoạch tổng thể đô thị tỉnh lỵ Vĩnh Yên. Nhằm nhanh chóng xây dựng thị xã Vĩnh Yên trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh, việc chỉ đạo công tác xây dựng kết cấu hạ tầng như: điện, đường, nước được chú trọng, quan tâm đầu tư, xây dựng. Vì thế, bộ mặt của thị xã Vĩnh Yên nhanh chóng đổi mới, các khu dân cư, công sở được hình thành. Ngay trong năm 1997; 1,3km đường đôi tại thị xã Vĩnh Yên được xây dựng với tổng dự toán 18 tỷ đồng.

Để đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ bản, từng bước làm thay đổi bộ mặt đô thị tỉnh lỵ và các trung tâm kinh tế, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp làm việc với các đồng chí lãnh đạo cán bộ, ngành trung ương, thống nhất kế hoạch đầu tư và chủ động bố trí vốn của địa phương để khởi công nhiều công trình quan trọng như: Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, Đài phát thanh và Truyền hình, Bưu điện, cầu Bến gạo, cầu vượt qua đường sắt phía nam ga Vĩnh Yên, đường nội thị, bệnh viện, trường học... Bên cạnh đó, Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành các thủ tục thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng; xây dựng kết cấu hạ tầng để giao đất cho các dự án; xây dựng công sở, khu công nghiệp; tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân viên ổn định nơi ăn, ở, yên tâm công tác.

Nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã thảo luận việc xây dựng hai khu công nghiệp tập trung là Kim Hoa và Khai Quang (khu Kim Hoa được ghi trong chương trình chủa Chính Phủ), chỉ đạo quy hoạch dự án phát triển vùng cây ăn quả tập trung ở huyện Tam Đảo.

Trong điều kiện mới tái lập còn rất nhiều hạn khó khăn, song dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, nhân dân trong tỉnh đã có nhiều cố gắng, đạt được những kết quả tương đối toàn diện trên các lĩnh vực. Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 1997 đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch. Kinh tế của tỉnh nhìn chung ổn định, phát triển. Sản xuất vụ chiêm – xuân đạt năng suất và sản lượng cao nhất so với các năm trước, năng suất đạt 37.3 tạ/ha, sản lượng lương thực quy thóc đạt 215.104,2 tấn, tăng 3,9% so với năm 1996. Chính sách thu hút vốn đầu tư bước đầu có hiệu quả. Đến hết tháng 6-1997 có 14 dự án đầu tư được cấp giấy phép với số vốn đăng ký là 303 triệu USD. Sản xuất công – nông – lâm nghiệp bước đầu thích nghi với cơ chế thị trường. Năm 1997, tổng thu ngân sách toàn tỉnh đạt 89 tỷ đồng.

Về công tác Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân, Tỉnh ủy đã lãnh đạo thực hiện tốt cuộc bầu cử Quốc hội khóa X và bầu bổ sung Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XII. Tỉnh ủy sớm thống nhất với các cơ quan ngành dọc để thành lập Ban Chấp hành lâm thời, các ngành, đoàn thể nhân dân, hội nghề nghiệp; quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể chính trị xã hội như Hội Phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Liên đoàn lao động, Hội Nông dân nhằm kiện toàn tổ chức tỉnh xuống cơ sở.

Để chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ tỉnh, Tỉnh ủy sớm thành lập các ban chuyên trách và có kế hoạch hướng dẫn Đại hội Đảng bộ các cấp. Đến đầu tháng 11-1997, tất cả các Đảng bộ huyện, thị và Đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy đều hoàn thành việc tổ chức Đại hội Đảng bộ và bầu đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII.

Thực hiện Điều lệ Đảng và Hướng dẫn số 06, ngày 23-7-1997 của Ban Tổ chức Trung ương về việc tổ chức  Đại hội Đảng bộ ở một số tỉnh, thành phố mới chia tách, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII được tiến hành từ ngày 5 đến ngày 7-11-1997, tại thị xã Vĩnh Yên. Tham dự Đại hội có 250 đại biểu, thay mặt cho 3,7 vạn đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đồng chí Trần Văn Đăng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhiều đại biểu ở các ban, ngành trung ương đã về dự Đại hội.

Với tinh thần dân chủ, trách nhiệm, trí tuệ, đoàn kết, đổi mới, phát huy trí tuệ tập thể, Đại hội có nhiệm vụ thảo luận Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc và Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy trình trước Đại hội, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XII.

Đại hội đề ra phương hướng chung phát triển kinh tế, xã hội những năm 1997-2000 là: “Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển ổn định, vững chắc sau năm 2000, thu hẹp khoảng cách so với bình quân chung của cả nước. Chuyển nền kinh tế theo hướng cơ cấu công nghiệp-nông nghiệp và dịch vụ…Kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giải quyết tốt hơn về việc làm, nâng cao đời sống nhân dân”. Đại hội nhất trí đề ra chỉ tiêu chủ yếu phấn đấu trong bốn năm 1997-2000 là:

- Nhịp độ tăng GDP bình quân 18-20%/năm.

- Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng bình quân trên 50%/năm.

- Giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp tăng bình quân 4,5-5%/năm.

- Giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng bình quân 17-18%/năm.

- Tổng sản lượng lương thực quy thóc bình quân 35 vạn tấn/năm, đến năm 2000 đạt 37-38 vạn tấn.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 16 triệu USD vào năm 2000, trong đó, xuất khẩu địa phương đạt 7 triệu USD, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 9 triệu USD.

- Thu nhập bình quân đầu người đạt từ 280-300USD vào năm 2000. Cơ bản xóa được hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%.

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và xây dựng, giảm tỷ trọng nông-lâm nghiệp. Cụ thể, giảm tỷ trọng nông-lâm nghiệp trong GDP từ 48,27% năm 1996 xuống còn 25% năm 2000; tăng tỷ trọng công nghiệp và xây dựng từ 13,98% năm 1996 lên 44% năm 2000; giảm tỷ trọng dịch vụ từ 37,75% năm 1996 xuống còn 31% năm 2000.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,6% vào năm 2000.

Để lãnh đạo nhân dân trong tỉnh phấn đấu đạt được các chỉ tiêu đó, Đại hội đề ra nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; về công tác quốc phòng, an ninh; về công tác xây dựng Đảng và đổi mới hoạt động của chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể về kinh tế, chính trị và xã hội do Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đề ra là những định hướng giúp Ban Chấp hành khóa mới và các cấp ủy Đảng trong lãnh đạo, điều hành và chỉ đạo thực tiễn.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc khóa XII gồm 43 đồng chí. Ban Chấp hành bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XII gồm 11 đồng chí. Đồng chí Bùi Hữu Hải được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Nguyễn Đình Đá và Nguyễn Minh Đăng được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội đã được Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đề ra, Tỉnh ủy đã chỉ đạo chuyển nền kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu sang cơ cấu nông, lâm nghiệp và dịch vụ, phát huy tiềm lực của ngành kinh tế, khai thác tốt thế mạnh của tỉnh. Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo giải quyết tốt vấn đề về lương thực, ổn định đời sống nhân dân. Sau ba năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XII (1997-2000), trong sản xuất nông-lâm nghiệp đã giải quyết tốt một số vấn đề về thủy lợi, giống, vốn, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nên năng suất, sản lượng lúa liên tục tăng. Giá trị sản xuất ngành nông-lâm nghiệp-thủy sản tăng bình quân 5,8%/năm (kế hoạch là 4,5-5%), tăng 25% so với văn 1996. Năng suất lúa bình quân một vụ từ 32,06 tạ/ha năm 1996 lên 34,6 tạ/ha năm 2000. Sản lượng lương thực quy thóc đạt 40,2 vạn tấn, tăng bình quân 6,9%/năm (kế hoạch là 37-38 vạn tấn). Bình quân lương thực đầu người năm 2000 đạt 362kg/người, tăng 85,7kg so với năm 1996, đạt mức cao nhất so với trước đó, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và bước đầu có nông sản hàng hóa. Cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả và các loại cây có giá trị kinh tế cao. Thu nhập bình quân một hécta canh tác đạt 20,56 triệu đồng/năm, vùng đồng bằng có nơi đạt 30-50 triệu đồng/ha (tăng 3 triệu đồng so với năm 1996). Sản xuất vụ đông đạt trên 70% diện tích canh tác. Để phục vụ sản xuất nông nghiệp, tỉnh tập trung đầu tư, nâng cấp các công trình thủy lợi, kiên cố hóa 200km kênh, mương, đưa diện tích tưới nước chủ động lên 85% tổng diện tích gieo trồng.

Phong trào trồng và bảo vệ rừng có nhiều cố gắng, trong ba năm 1997-2000, toàn tỉnh trồng mới được 7.281 ha rừng tập trung, trên 5 triệu cây phân tán, nâng độ che phủ từ 17% năm 1996 lên 19% năm 2000. Bên cạnh đó, toàn tỉnh trồng được 2.180 ha cây ăn quả các loại.

Cùng với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện, Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương tiếp tục đổi mới quản lý hợp tác, nhất là hợp tác xã nông nghiệp, từng bước thực hiện việc chuyển đổi và dồn ghép ruộng đất. Thường vụ Tỉnh ủy ra Kết luận về chuyển đổi ruộng đất và đổi mới hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã. Kết luận có hiệu lực từ ngày 01/01/1997 và được quán triệt sâu rộng trong các huyện, thị và hội nghị cán bộ toàn tỉnh. Đến năm 2000, số hợp tác xã đã chuyển đổi theo Luật đạt 97,5% so với tổng số hợp tác xã. Tỉnh đã sơ kết ba năm chuyển đổi hợp tác xã theo luật, khẳng định những việc làm được và chưa được, đề ra phương hướng phát triển hợp tác xã trong những năm tới. Sau khi chuyển đổi theo Luật, một số hợp tác xã hoạt động có hiệu quả. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất nông nghiệp được tiến hành rộng rãi đạt 87,5% tổng số hộ nông dân.

Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp chậm, sản phẩm hàng hóa ít. Năng suất cây trồng so với tiềm năng còn thấp. Nhiều hợp tác xã sau chuyển đổi còn lúng túng trong sản xuất kinh doanh, chưa tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế hộ phát triển. Kinh tế trang trại phát triển chưa mạnh. Quản lý và bảo vệ rừng chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng phá rừng vẫn còn tiếp diễn ở nhiều nơi.

Để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII chủ trương tập trung mọi nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp, có vốn đầu tư nước ngoài và công nghiệp ngoài quốc doanh. Sắp xếp công nghiệp quốc doanh trên địa bàn, lấy hiệu quả kinh tế làm căn cứ. Hoàn thành thủ tục và triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng hai khu công nghiệp Kim Hoa và Khai Quang. Tập trung phát triển công nghiệp ven theo trục Quốc lộ số 2, từ Mê Linh đến thị xã Vĩnh Yên. Lấy huyện Mê Linh làm địa bàn mở cửa xây dựng kinh tế liên doanh với nước ngoài. Có chính sách phù hợp, tạo môi trường thuận lợi để thu hút các đối tác vào đầu tư.

Thực hiện chủ trương của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, Tỉnh ủy quan tâm xây dựng cơ chế, chính sạch để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào địa bàn của tỉnh.

Nhờ sự lỗ lực của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và các ngành, các cấp, các địa phương nên sản xuất công nghiệp, xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng cao, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng bình quân 75,7%/năm (kế hoạch là 84,4%), giá trị sản xuất năm 2000 đạt 5.463,5 tỷ đồng, tăng hơn chín lần so với năm 1996. Riêng giá trị sản xuất công nghiệp tăng 90,6%/năm chủ yếu do công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), khu vực này tăng trưởng bình quân đạt 190,6%/năm. Năm 2000, giá trị sản xuất của công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm tỷ trọng 90% tổng giá trị ngành; công nghiệp nhà nước ở địa phương tăng 34,6%/năm, chiếm 1,3%/năm; công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 10%/năm (chiếm 4,5% giá trị sản xuất ngành công nghiệp). Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đi vào sản xuất, góp phần rất quan trọng tăng nguồn thu ngân sách, tạo động lực và khả năng mới cho sản xuất công nghiệp. Một số sản phẩm đã có mặt trên thị trường như ô tô, xe máy, săm lốp…

Đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh được tăng cường. Tổng vốn đầu tư tăng hằng năm trên 45%, trong đó vốn ngân sách nhà nước tăng bình quân 32,2%/năm. Phong trào làm đường giao thông phát triển khá. Hệ thống lưới điện, thông tin liên lạc được mở rộng và nâng cấp. Các công trình thuộc kết cấu hạ tầng y tế, văn hóa, giáo dục được quan tâm đầu tư tốt hơn. Tuy nhiên, nhu cầu về vốn chưa đáp ứng, nhất là những ngành, những vùng trọng điểm kinh tế và du lịch. Công tác quản lý dự án còn hạn chế, chất lượng các dự án đầu tư, thiết kế, dự toán còn yếu. Việc chỉ thầu các công trình xây dựng cơ bản còn mắc phải những sai phạm. Tình trạng nợ các công trình xây dựng cơ bản ở cơ sở không có nguồn vốn thanh toán có xu hướng tăng.

Một số doanh nghiệp địa phương được đầu tư, đổi mới thiết bị công nghệ đã có tiến bộ, song nhìn chung sản phẩm còn thiếu sức cạch tranh trên thị trường, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, nhiều doanh nghiệp còn thua lỗ kéo dài. Việc sắp xếp lại và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tiến hành chậm.

Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển, nhiều ngành nghề và làng nghề truyền thống chuyển sang cơ chế bị mất dần vị trí trên thị trường như: gốm Hương Canh, rèn Lý Nhân, mộc Bích Chu…

Các hoạt động dịch vụ, thương mại phát triển khá, giai đoạn 1996-2000 tăng bình quân 13,7%/năm. Giá trị sản xuất ngành dịch vụ năm 2000 đạt 1.214 tỷ đồng, tăng 67% so với năm 1996. Kinh doanh du lịch có những chuyển biến tích cực, doanh thu du lịch tăng bình quân 39,8%/năm. Các hoạt động dịch vụ như: tín dụng, ngân hàng, cung ứng điện, bưu điện, giao thông vận tải ngày càng mở rộng và có nhiều tiến bộ. Năm 2000, doanh thu vận tải đạt 100,2 tỷ đônhg, tăng bình quân 20,2%/năm. Doanh thu ngành bưu chính viễn thông và cung ứng điện tăng 1,5 lần so với năm 1997. Số máy điện thoại tăng gấp 3 bần so với năm 1996. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hằng năm là 47,4%, năm 2000 đạt 20,987 triệu USD, tăng 4,7 lần so với năm 1996, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra, trong đó, xuất khẩu địa phương đạt 8,8 triệu USD.

Thu ngân sách trên địa bàn và chi ngân sách địa phương đạt kết quả khá. Hằng năm đều hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch Nhà nước. Năm 2000, tổng thu ngân sách đạt 655,9 tỷ đồng, tăng năm lần so với năm 1996 (kể cả thuế xuất nhập khẩu và ngân sách xã). Trong đó, nguồn thu tăng chủ yếu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ 24,3 tỷ đồng năm 1997 lên 163 tỷ đồng năm 2000. Kết quả thu cao góp phần nâng mức chi ngân sách địa phương. Năm 2000 đạt 500,13 tỷ đồng, tăng 1,7 lần so với năm 1997.

Cơ sở vật chất- kỹ thuật, kết cấu hạ tầng giao thông, nhất là khu tỉnh lỵ Vĩnh Yên có bước phát triển khá nhanh. Tất cả các tuyến tỉnh lộ từ thị xã Vĩnh Yên đi các huyện đều được dải nhựa hoặc bê tông hóa. Hơn 50% các trường phổ thông trong tỉnh được xây cao tầng. Tất cả các xã đều có điện lưới và điện thoại. Năm 2000, tỷ lệ máy điện thoại là 1,6 máy/100 hộ (năm 1996 là 0,4 máy/100 hộ); cơ bản hoàn thành xây dựng trụ sở làm việc cho các cơ quan cấp tỉnh và hai huyện mới tái lập. Nhiều công trình thủy lợi quan trọng được xây dựng mới và nâng cấp như: Thanh Điềm, Đại Định, Liễn Sơn, Lũng Hạ, với tổng số vốn trên 100 tỷ đồng.

Đi đôi với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế và xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, Đảng bộ Vĩnh Phúc quan tâm phát triển sự nghiệp văn hóa-xã hội. Tháng 12-1996, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) họp và ra Nghị quyết về “Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ”. Hội nghị khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định cho sự phát triển đất nước”. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Cụ thể hóa Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), ngày 20/3/1997, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc thông qua Đề án số 01/ĐA-TU “Về nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2000”. Tỉnh ủy đề ra những định hướng và mục tiêu của giáo dục và đào tạo đến năm 2000, đồng thời đề ra những chương trình cụ thể và giải pháp chủ yếu:

- Tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống giáo dục đảm bảo đồng bộ.

- Mở rộng quy mô đào tạo nguồn nhân lực.

- Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học.

- Tăng cường cơ sở vật chất.

- Đổi mới công tác quản lý giáo dục, hạn chế các biểu hiện tiêu cực trong nhà trường.

- Phát triển giáo dục miền núi và các nơi khó khăn.

- Xã hội hóa giáo dục và đào tạo.

Quán triệt Nghị quyết Trung ương 2 và Đề án 01 của Tỉnh ủy về giáo dục và đào tạo, các cấp ủy Đảng và chính quyền căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương đã đề ra kế hoạch và phương án cụ thể. Tiếp đó, ngày 18/7/1998, Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 07-CT/TU “Về việc tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, công tác Đảng và đoàn thể trong trường học”. Thực hiện các nghị quyết của Trung ương và Tỉnh ủy, nhiệm vụ giáo dục và đào tạo được triển khai đồng bộ đến các cấp, các ngành và các địa phương trong tỉnh. Vì vậy, sự nghiệp giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới. Chất lượng giáo dục, đào tạo được nâng lên. Cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học được tăng cường. Trong ba năm 1997-2000, số học sinh tăng bình quân hằng năm 2,1%/năm. Có 67% số xã, phường hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Tỷ lệ học sinh khá, giỏi ở bậc tiểu học chiếm trên 40%. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn chiếm hơn 90%. Năm 2000, toàn tỉnh có 1.723 học sinh giỏi cấp tỉnh, tăng 400 học sinh so với năm học trước. Có 59 học sinh đoạt giải học sinh giỏi quốc gia, một học sinh đoạt Huy chương Vàng Olimpic toán châu Á- Thái Bình Dương. Các mục tiêu, chương trình phát triển giáo dục-đào tạo của tỉnh năm 2000 theo Đề án 01 của Tỉnh ủy cơ bản hoàn thành.

Cùng với công tác giáo dục và đào tạo, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Từ tháng 4 đến tháng 9/1998, Tỉnh ủy đề ra một số chủ trương, chính sách đồng bộ như: Thông tri số 07-TT/TU “Về việc tăng cường sự lãnh đạo thực hiện công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em”; Đề án số 02-ĐA/TU “Về thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình”; Đề án số 03-ĐA/TU “Về phát triển sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân”; Chỉ thị số 05-CT/TU “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thể dục thể thao”. Trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được và những hạn chế, khuyết điểm, Thường vụ Tỉnh ủy đề ra những nhiệm vụ và giải pháp của công tác tuyên truyền, giáo dục làm chuyển biến nhận thức về lĩnh vực này, tăng cường đầu tư của Nhà nước với khai thác mọi nguồn lực phát triển sự nghiệp y tế, thể thao, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Làm tốt công tác phòng bệnh, kết hợp đông y và tây y. Nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh. Tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, nâng cao chất lượng. Đẩy mạnh xã hội hóa, thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được các cấp, các ngành và các địa phương coi trọng. Mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở được củng cố. Đến năm 2000, hơn 60% trạm y tế cấp xã, phường đạt tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, 49% trạm y tế có bác sĩ. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai đồng bộ và đạt hiệu quả cao. Tỷ lệ trẻ em được tiêm đủ sáu liều vắc xin đạt 100%, chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên. Công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình đạt kết quả tốt. Tỷ lệ sinh liên tục giảm, từ 2,3% năm 1996 xuống còn 1,3% năm 2000. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2000 đạt 13,2% thấp hơn mức trung bình cả nước và đạt chỉ tiêu đã đề ra.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đặt biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các cấp và ngành văn hóa thực hiện tốt nghị quyết. Các hoạt động văn hóa đã hướng về cơ sở, khơi dậy và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống. Sở Văn hóa thông tin và thể thao tổ chức tốt các ngày Hội văn hóa thể thao từ cơ sở đến tỉnh. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng, xã văn hóa ngày càng phát triển. Nhiều làng, xã đã xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước văn hóa. Đến năm 2000, toàn tỉnh có 49,1% số gia đình đạt tiêu chuẩn Gia đình văn hóa; 21% số làng, xã đạt tiêu chuẩn Làng, Xã văn hóa.

Quán triệt Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 12/01/1998 của Bộ Chính trị, ngày 18/2/1998, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 03-CT/TW “Về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ, kỷ niệm ngày truyền thống”. Thường vụ Tỉnh ủy đề ra yêu cầu chung của việc tổ chức các ngày là: Bảo tồn có chọn lọc, cải tiến và phát huy những thuần phong mỹ tục của nhân dân. Loại bỏ những phong tục tập quán lỗi thời, lạc hậu, chống mê tín dị đoan, xây dựng và hình thành nếp sống văn hóa, văn minh. Việc tổ chức phải thật sự lành mạnh, triệt để, tiết kiệm, chống xa hoa, lãng phí, chống khuynh hướng kinh doanh vụ lợi.

Những yêu cầu và quy định của Tỉnh ủy về việc thực hiện nếp sống văn minh, lành mạnh trong ciệc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ, kỷ niệm ngày truyền thống được phổ biến, quán triệt sâu sắc và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc tất cả các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, các cấp, các ngành, các địa phương trong toàn tỉnh. Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định cụ thể để thực hiện và quản lý thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh theo yêu cầu và quy định của Chỉ thị. Các ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị có hướng dẫn cụ thể đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, nhân dân thực hiện đúng những quy định được ban hành. Các xã, phường, thị trấn, thôn, bản cụ thể hóa những quy định trong chỉ thị của Thường vụ Tỉnh ủy để hoàn chỉnh (quy chế, hương ước), các tiêu chuẩn làng văn hóa, xã văn hóa và tiêu chí thi đua khen thưởng và kỷ luật. Vì vậy, việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ, kỷ niệm ngày truyền thống đã đạt kết quả bước đầu, tạo được dư luận tốt trong nhân dân.

Công tác xã hội được các cấp ủy Đảng quan tâm. Chương trình giải quyết việc làm và chương trình xóa đói giảm nghèo được thực hiện tích cực. Hằng năm, giải quyết việc làm mới cho khoảng 14.000-15.000 lao động. Đến năm 2000, cơ bản xóa hộ đói, tỷ kệ hộ nghèo còn khoảng 9,2% (theo tiêu chí cũ). Công tác cứu trợ, bảo trợ xã hội và chính sách đối với người có công với nước được thực hiện tốt. Các hoạt động từ thiện, nhân đạo được đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng. Các chương trình mục tiêu phòng chống tệ nạn xã hội thực hiện đạt kết quả bước đầu.

Tuy nhiên, các lĩnh vực văn hóa, xã hội vẫn còn những bất cập so với yêu cầu. Cơ sở vật chất nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển. Công tác xã hội hóa trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao thực hiện còn chậm. Chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo nhìn chung còn thấp so với yêu cầu. Tỷ lệ người thiếu việc làm còn cao. Các tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Đời sống nhân dân còn khó khăn, bình quân thu nhập đầu người thấp, bằng 70% bình quân chung cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo tuy đã giảm, nhưng nguy cơ tái nghèo, đói còn cao, nhất là các xã miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số.

Công tác quốc phòng được củng cố, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự, an toàn xã hội có bước tiến bộ. Ngày 23/01/1998, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 02-NQ/TU “Về nhiệm vụ quốc phòng và công tác quân sự địa phương năm 1998”. Trên cơ sở đó, các cấp, các ngành và các địa phương quán triệt và lãnh đạo việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và công tác quân sự cho địa phương, đơn vị mình. Lực lượng vũ trang trong tỉnh đã chú trọng tổ chức triển khai các chủ trương của Đảng và Nhà nước về an ninh, quốc phòng, nâng cao cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, củng cố xây dựng khu vực phòng thủ, thực hiện Pháp lệnh Dân quân tự vệ và Pháp lệnh Dự bị động viên. Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch tuyển quân hằng năm; quản lý huấn luyện lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, thực hành diễn tập khu vực phòng thủ, tổ chức diễn tập phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn đạt kết quả khá. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được phát động sâu rộng và xây dựng điển hình tiên tiến. Tổng kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh về Dự bị động viên (1996-2000), Ủy ban nhân dân tỉnh đã tặng Bằng khen cho một số địa phương, đơn vị: huyện Mê Linh, Lập Thạch, Vĩnh Tường, Tam Dương, thị xã Vĩnh Yên, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Y tế, Trung đoàn 834, phòng Tham mưu, phòng Chính trị thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh.

Tuy nhiên, việc kết hợp xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng và an ninh có lúc, có nơi chưa chặt chẽ. Việc quản lý huấn luyện dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên kết quả còn hạn chế. Tình hình tội phạm hình sự có chiều hướng gia tăng cả về tính chất và mức độ. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân còn một số vụ việc tồn đọng kéo dài, tiềm ẩn những nhân tố bất ổn định xã hội.

Cùng với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc thường xuyên quan tâm chỉ đạo xây dựng và củng cố hệ thống chính trị. Hội đồng nhân dân các cấp đã từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động, tổ chức tốt các kỳ họp theo luật định, quyết định kịp thời những vấn đề quan trọng về kinh tế, xã hội của địa phương. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thể hiện quan điểm đường lối của Đảng, phù hợp với tình hình thực tế, được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ. Hội đồng nhân dân thực hiện chức năng giám sát, kiểm ta có tiến bộ, kiến nghị nhiều vẫn đề bức xúc mà nhân dân quan tâm để cơ quan chức năng giải quyết.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ về việc tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, ngày 26/8/1999, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1999-2004. Trong giai đoạn chuẩn bị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã có ý kiến về định hướng cơ cấu, số lượng đại biểu, chuẩn bị nhân sự, đảm bảo cho cuộc bầu cử dân chủ, có sự lãnh đạo thống nhất cao. Ngày 14/11/1999, cùng với cả nước, cử tri tỉnh Vĩnh Phúc sau tái lập tỉnh đã hăng hái tham gia cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp khóa XIII, nhiệm kỳ 1999-2004. Cuộc bầu cử thành công tốt đẹp ở các cấp, 47 đại biểu tiêu biểu của tỉnh đã được nhân dân lựa chọn bầu vào Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc khóa XIII. Ngày 13/12/1999, kỳ họp thứ nhất Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc khóa XIII đã bầu đồng chí Nguyễn Xuân Thiết tiếp tục giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; bầu đồng chí Nguyễn Minh Đăng giữ chức Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.

Sau bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, ủy ban nhân dân các cấp từ tỉnh đến xã nhanh chóng được kiện toàn và duy trì hoạt động theo quy chế. Ủy ban nhân dân các cấp đã chỉ đạo điều hành các ngành thực hiện tốt nhiệm vụ; xây dựng, chỉ đạo thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ban hành nhiều văn bản pháp quy nhằm tăng cường chức năng quản lý, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, trong quá trình hoạt động, ủy ban nhân dân các cấp tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, đồng thời triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, Quy chế dân chủ trong cơ quan, doanh nghiệp nhà nước. Năm 2000, Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã tổ chức tốt Đại hội thi đua tỉnh lần thứ nhất, tiến tới Đại hội thi đua toàn quốc.

Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các đoàn thể chính trị - xã hội thường xuyên nhận được sự quan tâm, lãnh đạo của Tỉnh ủy. Ban thường vụ Tỉnh ủy ban hành một số Thông tri, Chỉ thị nhằm tăng cường công tác vận động phụ nữ và đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 04 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ mới. Trong chương trình công tác, Tỉnh ủy, Ban thường vụ Tỉnh ủy định kỳ nghe cấp ủy trực thuộc và Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể báo cáo hoạt động và định hướng công tác. Trên cơ sở đó, kịp thời chỉ đạo hoạt động của Mặt trận.

Được sự chỉ đạo trực tiếp của các cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội có nhiều chuyển biến cả về nội dung và phương thức hoạt động. Trong hoạt động của mình, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã coi trọng chăm lo lợi ích thiết thực của các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; làm tốt công tác vận động quần chúng.

Mặt trận Tổ quốc đã tích cực phát huy vai trò xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp đổi mới; vận động các tầng lớp nhân dân, hưởng ứng phong trào “Toàn dân đoàn kết, xấy dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, “Ủng hộ đồng bào bị bão lụt”…. Bên cạnh đó Mặt trận Tổ quốc các cấp quan tâm đến đời sống người có công với nước, người cao tuổi, động viên các chức sắc tôn giáo và những người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tham gia xây dựng cuộc sống mới.

Hội nông dân có nhiều hình thức vận động nông dân sản xuất giỏi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo; tổ chức các hộ nông dân liên kết phát triển sản xuất, xây dựng nông thôn mới.

Hội cựu chiến binh đã tích cực củng cố và mở rộng tổ chức cơ sở, chú trọng giúp nhau phát triển kinh tế; chăm lo đời sống và phát huy vai trò nòng cốt của cựu chiến binh trong việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, tích cực tham gia xây dựng Đảng và chính quyền, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.

Tuy nhiên, việc tổng kết thực tiễn hoạt động của các tổ chức đoàn thể chưa được thực hiện thường xuyên; nhiều vấn đề nảy sinh trong nhân dân chậm được phát hiện và phối hợp giải quyết kịp thời. Hệ thống tổ chức làm công tác dân vận chưa được kiện toàn. Tỷ lệ tập hợp hội viên, đoàn viên còn thấp. Chất lượng hoạt động của các đoàn thể chưa cao, còn nhiều lúng túng trước tình hình và yêu cầu của giai đoạn mới. Hoạt động của các đoàn thể ở cơ sở nhiều nơi còn yếu.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đề ra phương châm “Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt”. Đảng bộ Vĩnh Phúc chú trọng tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng. Các cấp ủy Đảng thường xuyên coi trọng công tác giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên; tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng và các Nghị quyết Trung ương, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII. Để không ngừng nâng cao trình độ lý luận, đáp ứng yêu cầu giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh, ngày 21-4-1999, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Quyết định về việc tổ chức biên soạn “Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Vĩnh Phúc” (1945-1954). Ngày 20-9-1999, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Quyết định về việc biên soạn và xuất bản sách: “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc” (1928-1968), tập I. Cả hai cuốn sách đều được tổ chức nghiên cứu, biên soạn công phu và được xuất bản vào năm 2000, năm có nhiều ngày kỷ niệm lớn của Đảng và của dân tộc, năm bản lề của thiên niên kỷ mới.

Công tác tổ chức và cán bộ được Đảng bộ chú trọng, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngày 5-4-1998, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 03-NQ/TU “Về công tác cán bộ đến năm 2010”. Tỉnh ủy nhấn mạnh: công tác cán bộ cần có sự đổi mới về nhận thức, lấy hiệu quả công tác và phẩm chất chính trị làm thước đo. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng, từng bước bổ sung, hoàn chỉnh tiêu chuẩn chính trị, chuyên môn cho mỗi loại cán bộ. Tăng cường lãnh đạo của cấp ủy đối với hệ thống trường chính trị, đáp ứng yêu cầu đào tạo trong giai đoạn mới. Công tác quy hoạch cán bộ bước đầu được chú ý.

Tháng 8-1999, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Bùi Hữu Hải lâm bệnh qua đời đột ngột, Tháng 10-1999, Bộ Chính trị phân công đồng chí Phan Thế Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương về giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Tháng 3-2000, đồng chí Phan Thế Hùng ốm nặng, tháng 7-2000, Bộ Chính trị ra Quyết định miễn nhiệm chức Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc của đồng chí Phan Thế Hùng và cử đồng chí Chu Văn Rỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Tài chính Quản trị Trung ương về làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc.

Trong khi toàn Đảng, toàn dân đang tích cực chuẩn bị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, ngày 13-12-2000 Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu về thăm và làm việc tại tỉnh Vĩnh Phúc. Cùng đi với Tổng Bí thư có các đồng chí Lê Thị Xuân Mỹ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng; Trần Đình Hoan, Ủy viên Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng. Tại buổi làm việc, đồng chí Chu Văn Rỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy báo cáo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội từ khi tái lập tỉnh và những khó khăn trong công việc chuẩn bị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII.

Trao đổi với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, Tổng Bí thư biểu dương những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc đạt được trong xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội. Những năm ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tiền tệ trên thế giới và khu vực (1997-2000), nhiều địa phương gặp khó khăn, nhưng Vĩnh Phúc vẫn là trong những tỉnh đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao. Về công tác chuẩn bị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, Tổng Bí thư nhấn mạnh tầm quan trọng của nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, phê bình và tự phê bình. Đồng chí chỉ rõ “trong công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội, cần lấy lợi ích của nhân dân, của toàn Đảng bộ làm trọng. Phải gạt bỏ những tư tưởng của cá nhân, cục bộ, bản vị. Tất cả đảng viên cộng sản đều cùng chung một lý tưởng, một mục đích. Chúng ta chỉ có một Đảng lãnh đạo, dù cán bộ vùng nào, miền nào mà xứng đáng, đủ đức, đủ tài thì phải đưa vào những chức vụ thích hợp. Trong hệ thống chính trị của ta vừa tập trung, vừa dân chủ, đảng viên phải luôn sẵn sàng làm nhiệm vụ do Đảng phân công”.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), ngày 2-2-1999 “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng” và ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu về xây dựng chỉnh đốn Đảng, toàn Đảng bộ đã thực hiện cuộc vẫn động phê bình và tự phê bình trong các cấp ủy, tổ chức Đảng từ tỉnh đến cơ sở và trong cán bộ, đảng viên. Sau hai năm tiến hành đợt tự phê bình và phê bình đã có 502 tổ chức cơ sở Đảng trong toàn tỉnh (trong đó có 150 Đảng bộ xã phường, thị trấn) tiến hành kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2). Qua kiểm điểm tập thể và cá nhân, ý thức trách nhiệm của cán bộ và đảng viên được nâng lên kịp thời ngăn ngừa những việc làm sai trái, chấn chỉnh cơ chế quản lý, tăng cường chế độ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, góp phần tạo ra sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng và trong nhân dân.

Nội dung sinh hoạt Đảng được cải tiến một bước, nhiều nơi đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho đảng viên. Thông qua đó, mối quan hệ giữa đảng viên, tổ chức Đảng với quần chúng thêm gắn bó. Công tác phát triển đảng viên được các cấp ủy Đảng coi trọng. Số lượng đảng viên mới được kết nạp tăng, trong bốn năm 1997-2000, toàn Đảng bộ kết nạp 4.574 đảng viên, đa số là đảng viên trẻ, có kiến thức, được rèn luyện qua thực tiễn sản xuất, công tác.

Công tác xây dựng cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh được cáp cấp ủy Đảng quan tâm. Năm 1999, Tỉnh ủy ra Nghị quyết 05-NQ/TU về củng cố tổ chức cơ sở Đảng nông thôn. Số chi bộ, Đảng bộ đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh tăng, đến cuối năm 1999, toàn tỉnh đạt 68,5%. Đảng viên loại I đạt 85,6%. Tổ chức Đảng ở nông thôn được kiện toàn lại trên cơ sở chuyển các chi bộ ở khu dân cư thành lập lại theo thôn, làng nhằm gắn tổ chức Đảng sát với nhiệm vụ chính trị nội bộ, tiến hành rà soát, đối chiếu hồ sơ cán bộ, đảng viên.

Công tác kiểm tra của Đảng được tăng cường, các cấp ủy Đảng đã coi trọng việc kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới chấp hành điều lệ, chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Các cuộc kiểm tra của cấp ủy đã tập trung vào việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), Đề án 01 của Tỉnh ủy về phát triển giáo dục, đào tạo; kiểm tra công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII);  kiểm tra việc thực hiện quy chế dân chủ và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Qua kiểm tra đã góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo và giữ gìn kỷ luật Đảng.

Ủy ban kiểm tra các cấp đã chủ động thực hiện năm nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định, nhiệm vụ cấp ủy giao, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm là tham mưu cho cấp ủy trong việc thự hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), kiểm tra Đảng viên và tổ chức Đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo đảng viên. Ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra được 1.757 đảng viên, trong đó cấp ủy viên các cấp chiếm 17,81% so với tổng số được kiểm tra.

Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng còn một số khuyết điểm, chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa cao. Một số tổ chức Đảng con xem nhẹ công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Một số cán bộ đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp còn mang nặng tư tưởng cá nhân, chưa gương mẫu rèn luyện bản thân, chạy theo lối sống thực dụng, tham vọng quyền lực, danh lợi, cục bộ làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Trong hơn ba năm của nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ khóa XII (1997-2000), Tỉnh ủy đã ban hành nhiều văn bản, quyết định những vấn đề quan trọng, tập trung xử lý, giải quyết những công việc liên quan đến các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tỉnh ủy và Ban thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành 8 nghị quyết và đề án những công tác lớn, liên quan đến chiến lược phát triển trên các lĩnh vực. Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Thường trực Tỉnh ủy ra 334 văn bản thông báo, kết luận, thông tri, chỉ thị về chỉ đạo điều hành các lĩnh vực; 33 kế hoạch để triển khai học tập, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết; 110 báo cáo định kỳ hoặc đột xuất. Tất cả các văn kiện đó, phản ảnh hoạt động của cấp ủy Đảng theo từng lĩnh vực công tác.

Quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII (1997-2000) trong điều kiện tỉnh mới tái thành lập còn nhiều khó khăn, song dưới sự lãnh đạo của Trung ương, mà trực tiếp là Bộ Chính trị và các bộ, ngành Trung ương, cùng với sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng: tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) hàng năm tăng 17,8%/năm. Tuy chưa đạt được chỉ tiêu Đại hội đề ra (18-20%/năm) nhưng vẫn tăng trưởng cao so với bình quân chung cả nước. Trong đó, nghành công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng rất nhanh, đạt 75,7%/năm (chỉ tiêu đề ra trên 50%/năm). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tích cực: công nghiệp – nông nghiệp và dịch vụ. Nhiều chỉ tiêu chính về phát triển kinh tế - xã hội đã đạt và vượt mục tiêu Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đề ra. Thu ngân sách trên địa bàn tăng nhanh, văn hóa xã hội nhiều mặt có tiến bộ. Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng cơ sở được tăng cường, bộ mặt đô thị và nông thôn có nhiều đổi mới. Đời sống vật chất, tình thần của nhân dân từng bước được cải thiện.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những khó khăn, thách thức, khuyết điểm, nhược điểm trong công tác chỉ đạo, điều hành của Đảng bộ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng chưa đủ điều kiện để đảm bảo phát triển ổn định và bền vững. Chất lượng và hiệu quả kinh tế chưa cao, các doanh nghiệp nhà nước sản xuất gặp nhiều khó khăn, sức cạnh tranh của sản phẩm thấp, nhiều đơn vị thua lỗ. Vai trò của kinh tế hợp tác xã nông nghiệp chưa tạo được động lực mới thúc đẩy kinh tế hộ phát triển. Kinh tế trang trại quy mô còn nhỏ bé, chậm phát triển. Nông nghiệp chưa chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa. Kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, song chủ yếu là do đầu tư nước ngoài. Số thu ngân sách của địa phương còn chếm tỷ trọng thấp cơ cấu tổng thu trên địa bàn.

Trong lĩnh vực xã hội còn nhiều mặt bức xúc, tỷ lệ người thiếu việc làm còn cao. Thu nhập của nhân dân thấp, GDP bình quân đầu người mới đạt gần 70% bình quân chung của cả nước. Chênh lệch về đời sống giữa các vùng còn cao. Mặc dù tỷ lệ hộ đói nghèo giảm, song nguy cơ tái nghèo đói còn lớn. Việc giải quyết đơn thư khiếu nạo, tố cáo của công dân còn để tồn đọng kéo dài. Trong xây dựng cơ bản, nợ các công trình xây dựng không có khả năng thanh toán ở cơ sở còn khá phổ biến, tiềm ẩn những yếu tố ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn.

Công tác quản lý, bảo vệ rừng chưa được quan tâm thường xuyên, chưa có sự phối hợp chặt chẽ có hiệu quả giữa các cấp, các nghành. Tình trạng phá rừng còn sảy ra nghiem trọng. Công tác bảo vệ môi trường chưa được nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức. Mặc dù đã có những biện pháp tích cực, song tệ quan liêu, tham nhũng tiêu cực không những chưa được đẩy lùi và ngăn chặn mà còn để xảy ra những vụ việc gây thất thoát tài sản của Nhà nước.

Là một tỉnh mới tái lập, nhu cầu xây dựng rất lớn, nhưng Ban chấp hành và Ban Thường vụ Tỉnh ủy chưa có nghị quyết, chủ trương cụ thể về lãnh đạo và chỉ đạo lĩnh vực đấu thầu xây dựng cơ bản – một lĩnh vực có nhiều nhạy cảm. Vì vậy, công tác quản lý chấp hành quy chế về đầu tư, xây dựng cơ bản của Nhà nước chưa thực hiện đầy đủ, nghiêm túc nên đã để lại những dư luận không tốt, ảnh hưởng xấu đến uy tín của các cấp ủy và chính quyền tỉnh. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức hệ thống chính trị vẫn còn một số hạn chế.

Sở dĩ còn những khuyết điểm, nhược điểm đó là vì Vĩnh Phúc là một tỉnh nông nghiệp, đất chật, người đông, cơ sở vật chất – kỹ thuật còn nghèo, điểm xuất phát của nền kinh tế còn quá thấp. Việc xây dựng mục tiêu kinh tế cụ thể của Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XII chưa dự báo được tình hình khủng hoảng tài chính tiền tệ của các nước trong khu vực, đã tác động trực tiếp đến vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các nghành còn thiếu tập trung, chưa sâu sát tháo gỡ những khó khăn. Trong những năm cuối của nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII,  cán bộ chủ chốt có sự thay đổi nên có nơi, có lúc xuất hiện tư tưởng cá nhân, cục bộ, địa phương, xảy ra tình trạng mất đoàn kết trong một số đồng chí cấp ủy, làm ảnh hưởng tới việc tổ chức, chỉ đọa thực hiện nhiệm vụ chính trị và giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Vấn đề này đã được Tỉnh ủy nghiêm túc kiểm điểm và coi đây là bài học sâu sắc cho sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong những nhiệm kỳ tiếp theo.

Mặc dù còn những hạn chế, thiếu sót do chủ quan và khách quan, song những thành tựu về kinh tế - xã hội trong bốn năm cuối thể kỷ XX (1997-2000) vẫn là cơ bản, to lớn. Thắng lợi đó chẳng những tạo được khí thế phấn khởi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, khẳng định được vai trò, vị thế của một tỉnh mới tái lập mà còn tạo thế và lực mới để Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc cùng cả nước vững bước tiến vào thiên niên kỷ mới.

II. TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA (2001-2005)

Sau hơn bốn năm tái lập tỉnh, vượt lên mọi khó khăn. Thách thức do thiên tai và những biến động của kinh tế thế giới, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở một số nước Đông Nam Á, châu Á, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc nỗ lực phấn đấu, giành được những thắng lợi quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, góp phần tạo ra một diện mạo mới cho tỉnh Vĩnh Phúc.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về việc tiến hành Đại hội Đảng các cấp, từ ngày 12 đến ngày 15-3-2001, Đại hội đại biểu lần thứ XIII Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc được tổ chức trọng thể tại thị xã Vĩnh Yên. Tham dự Đại hội có 250 đại biểu chính thức thay mặt cho hơn 40.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đến dự Đại hội có đồng chí Nguyễn Thị Xuân Mỹ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng và một số đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng.

Đại hội diễn ra trong bối cảnh đất nước đứng trước những thời cơ và vận hội mới, đồng thời cũng gặp phải những thách thức lớn lao, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc phải phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, phát huy mọi tiềm năng và lợi thế có sẵn, khai thác tốt mọi nguồn lực, tận dụng mọi thời cơ để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Với tinh thần “Dân chủ, trí tuệ, trách nhiệm, kỷ cương, đoàn kết”, Đại hội nghiêm túc đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá tình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII Đảng bộ tỉnh, nhiệm kỳ 1997-2000. Đại hội khẳng định: kinh tế của tỉnh đạt được nhịp độ tăng trưởng cao, nhất là công nghiệp và xây dựng. GDP tăng bình quân 17,8/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tích cực: công nghiệp – nông nghiệp- dịch vụ. Văn hóa, xã hội và khoa học công nghệ có nhiều tiến bộ. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Công tác xây dựng được tăng cường một bước.

Tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, song không ổn định và bền vững. Chất lượng và hiệu quả kinh tế chưa cao. Sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa thấp. Nông nghiệp chưa chuyển sang sản xuất hàng hóa. Lĩnh vực xã hội còn nhiều bức xúc, thu nhập của nhân dân thấp, GDP bình quân đầu người chỉ bằng 70% bình quân chung cả nước, chênh lệch giàu nghèo lớn, tệ tham nhũng quan liêu, tiêu cực chưa được đẩy lùi, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng trong hệ thống chính trị còn nhiều hạn chế.

Trên  cơ sở phân tích sâu sắc ưu, khuyết điểm, Đại hội đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2005 là: “Phát huy và khai thác cao độ tiềm năng, thế mạng của địa phương, tận dụng mọi nguồn lực trong và ngoài tỉnh, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương, thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế theo cơ cấu công – nông nghiệp – dịch vụ, thục hiện phân công lại lao động xã hội. Kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, tham nhũng và các tệ nạn xã hội; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, sớm vượt qua nghèo đói, từng bước tiến tới giàu có, phồn thịnh”.

Đại hội đề ra mục tiêu cụ thể trong 5 năm 2001-2005: GDP tăng bình quân trên 10%/năm; thu  nhập bình quân đầu người đạt 350USD/năm; giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng bình quân hàng năm 16%; giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân hàng năm 4,5 – 5%; giá trị các nghành dịch vụ tăng bình quân 9%/năm; sản lượng lương thực bình quân đạt 40 vạn tấn/năm; kim ngạch xuất khẩu đạt 40 -45 triệu USD, trong đó xuất khẩu địa phương đạt 10 triệu USD; cơ cấu kinh tế đến năm 2005 bao gồm: công nghiệp và xây dựng đạt 46%, nông – lâm nghiệp đạt 24,5%, du lịch – dịch vụ đạt 29,5%; giải quyết việc làm 15.000 - 16.000 người/năm; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đến năm 2005 là 11%; hạ tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 25%. Đại hội cũng đề ra yêu cầu huy động và phát huy các nguồn lực tài chính trong dân cư để đầu tư phát triển kinh tế. Tăng tích lũy vốn để tạo vốn cho đầu tư phát triển kinh tế. Tăng tích lũy vốn để tạo vốn cho đầu tư phát triển. Phấn đấu thu ngân sách nhà nước hàng năm đạt trên 600 tỷ đồng (kể cả thu thuế xuất nhập khẩu và thu ngân sách xã). Khai thác và nuôi dưỡng các nguồn thu trên địa bàn tỉnh. Xây dựng kế hoạch phát triển ngân sách xã, phấn đấu đến năm 2005 có 30 đến 40% số xã có thu nhập trên địa bàn bằng số chi thường xuyên.

Đại hội đề ra nhiệm vụ và các giải pháp: phát triển nông – lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng; đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng; phát triển kinh tế đối ngoại; tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển khoa học và công nghệ; đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, du lịch; lành mạnh hóa các hoạt động tài chính, tín dụng; nâng cao chất lượng giáo dục, văn hóa, xã hội; tăng cường củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; đổi mới hoạt động và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị; xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trên, Đại hội đã đề ra 10 chương trình kinh tế - xã hội trọng điểm:

1- Chương tình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.

2- Chương trình trồng 6.000ha rừng và bảo vệ rừng hiện có.

3- Chương trình phát triển công nghiệp – thủ công nghiệp.

4- Chương trình xây dựng đô thị và nông thôn mới.

5- Chương trình phát triển các khu du lịch tâp trung.

6- Chương tình dân số, việc làm và xóa đói, giảm nghèo.

7- Chương trình phát triển khoa học, công nghệ và môi trường.

8- Chương trình giáo dục, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nâng cao tay nghề cho người lao động.

9- Chương trình phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội và bệnh dịch HIV/AIDS.

10- Chương trình kiện toàn tổ chức, sắp xếp lại bộ máy của hệ thống chính trị.

Cùng với việc nghiêm túc kiểm điểm tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị trong nhiệm kỳ XII, đề ra phương hướng, mục tiêu, giải pháp và 10 chương trình kinh tế - xã hội trong 5 năm 2001-2005, Đại hội còn thảo luận báo cáo kiểm điểm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (lần 2).

Phát biểu ý kiến với Đại hội, đồng chí Nguyễn Thị Xuân Mỹ, Ủy viện Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương Đảng đánh giá cao những cố gắng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong chỉ đạo, điều hành của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Đồng chí yêu cầu Đảng bộ nghiêm khắc kiểm điểm tình trạng mất đoàn kết trong các cấp ủy Đảng từ tỉnh đến cơ sở. Về phương hướng phát triển trong 5 năm 2001-2005, đồng chí nêu ra các quan điểm chỉ đạo và tin tưởng rằng: “Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XIII , kiên trì, bền bỉ, vượt qua khó khăn, thử thách, tiếp tục sáng tạo để xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc ngày một giàu mạnh, cùng cả nước vững bước tiến vào thế kỷ XXI”.

Đại hội đã bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc khóa XIII gồm 47 ủy viên. Trong phiên họp đầu tiên, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh bầu Ban Thương vụ Tỉnh ủy gồm 11 ủy viên và bầu đồng chí Chu Văn Rỵ làm Bí thư Tỉnh ủy.

Ngay sau Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII, công tác nhân sự có sự thay đổi đối với một số đồng chí chủ chốt của tỉnh. Ngày 9-5-2001, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã họp bầu đồng chí Nguyễn Văn Bình – Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Phó bí thư Thường trực Tỉnh uỷ; bầu đồng chí Trịnh Đình Dũng – Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Phó Bí thư Tỉnh ủy. Đến ngày 11-10-2001, tại kỳ họp thứ bảy (họp bất thường) Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc khóa XIII đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Bình – Phó Bí thư Thường trực, kiêm Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; bầu đồng chí Trịnh Đình Dũng – Phó Bí thư Tỉnh ủy giữ chức Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Từ ngày 19 đến ngày 22-4-2001, tại Hà Nội diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu về kinh tế và giao thoa văn hóa, đứng trước thời cơ và thách thức mới, Đại hội tổng kết 15 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới và 10 năm 1990-2000 thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội. Thấu suốt quan điểm “Trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới”, Đại hội nghiêm túc đánh giá những thành tựu và chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, trên cơ sở đó hoạch định đường lối phát triển kinh tế - xã hội trong những năm đầu thế kỷ XXI. Đại hội thông qua “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010”. Đại hội khẳng định quyết tâm, phát huy truyền thống vẻ vang và sức mạnh đoàn kết dân tộc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, năm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước tiến lên trong thế lỷ XXI.

Thắng lợi của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII là nguồn sức mạnh to lớn để tăng cường hơn nữa sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ và khối đoàn kết nhân dân trong tỉnh hướng vào thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, từng bước tạo ra bước chuyển biến mới trong những năm đầu thế kỷ XXI.

Bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, Vĩnh Phúc có những thuận lợi rất căn bản. Thứ nhất, những thành tựu đạt được sau 15 năm đổi mới đất nước và trên địa bàn tỉnh, nhất là những thành tựu sau hơn 4 năm tái lập tỉnh là rất quan trọng, tạo tiền đề vững chắc để Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc bước vào thế kỷ XXI. Thứ hai, đường lối đúng đắn do Đại hội IX của Đảng đề ra là cơ sở và định hướng để Đảng bộ Vĩnh Phúc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Thứ ba, Vĩnh Phúc đang có lợi thế: “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.

Tuy nhiên, bước vào thế kỷ XXI, Vĩnh Phúc vẫn còn nhiều khó khăn là tỉnh nghèo với thu nhập bình quân đầu người mới bằng 70% bình quân chung cả nước. Sau khi tái lập tỉnh, tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh song chưa ổn định và bền vững, chất lượng và hiệu quả kinh tế chưa cao. Tiềm năng về đất đai của 3 vùng sinh thái: Đồng bằng, trung du, miền núi chưa được khai thác hiệu quả nên đời sống của đại đa số nhân dân gặp nhiều khó khăn. Trình độ quản lý, đặc biệt là quản lý đất đai ở nông thôn và quản lý xây dựng cơ bản còn nhiều hạn chế, gây nhiều thất thoát tài sản của Nhà nước, làm giảm sút lòng tin của nhân dân. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và các cấp chính quyền chưa cao. Một số nơi xảy ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ, hạn chế sức mạnh của tổ chức Đảng.

Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm 2001-2005, để phát huy những thuận lợi, khắc phục những khó khăn hạn chế, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc chỉ đạo các cấp ủy Đảng quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII Đảng bộ tỉnh trong toàn Đảng bộ nhằm đưa Nghị quyết vào cuộc sống, phát huy, khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tận dụng mọi nguồn lực, thu hút nguồn vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế để phát triên kinh tế - xã hội.

Thực hiện quy chế làm việc và chương trình công tác năm 2002 của Bộ Chính trị, ngày 06/6/2002, tập thể Ban Bí thư Trung ương Đảng về thăm và làm việc trực tiếp với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc. Ban Bí thư Trung ương Đảng đánh giá cao những thành tựu đã đạt được sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII, trong đó, thành tích nổi bật của tỉnh là cấp ủy và chính quyền đã có nhiều chủ trương biện pháp tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, nhất là chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, tăng tỷ trọng công nghiệp từ 19,8% năm 1997 lên 40,7% năm 2001 giảm tỷ trọng nông nghiệp từ 43,6% năm 1997 xuống 26,9% năm 2001. Tỉnh đã coi trọng huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Sự nghiệp văn hóa, xã hội phát triển; nguồn nhân lực được quan tâm hơn. Chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và củng cố hệ thống chính trị có nhiều tiến bộ. Ban Bí thư đã đã chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, quản lý đất đai, xây dựng cơ bản,trong xây dựng chỉnh đốn Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ…Về định hướng phát triển trong năm 2002 và đến năm 2005, Ban Bí thư yêu cầu Đảng bộ Vĩnh Phúc không thỏa mãn với những kết quả đạt được “Mà cần có ý chí tiến công mới, năng động, sáng tạo, có những biện pháp mạnh mẽ hơn nữa, phát huy bằng được tiềm năng còn lớn ở mỗi vùng, trong các thành phần kinh tế để tiếp tục phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, từ đó tăng nhanh hơn mức thu nhập và cải thiện thêm đời sống cho nhân dân… Đồng thời, phát triển kinh tế phải gắn kết với xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, tiến bộ, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng đào tạo nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, giữu vững quốc phòng, an ninh. Phải rất chú trọng việc gắn phát triển kinh tế với yêu cầu nâng cao mức thu nhập của đại đa số nhân dân lao động, bảo đảm công bằng xã hội, thực hiện đúng bản chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” Ban Bí thư chỉ rõ định hướng này phải được quán triệt, đạt tới mức thống nhất cao trong toàn Đảng bộ và trong các cơ quan nhà nước, đoàn thể nhân dân. Bên cạnh đó, Ban Bí thư yêu cầu Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh cùng với việc tiếp tục tìm các giải pháp, chính sách để phát triển kinh tế, nhất là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, phải rất coi trọng chỉ đạo củng cố, sắp xếp, điều chỉnhđổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hợp tác. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý để doanh nghiệp nhà nước kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường. Tổng kết việc chuyển đổi và phát triển hợp tác theo Luật hợp tác xã. Có biện pháp thiết thực khuyến khích và tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển thuận lợi, đúng hướng. Từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ. Tiếp tục củng cố, tăng cường đoang kết trong nội bộ cấp ủy và tăng cường sức chiến đấu, năng lực lạnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng.

Các ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư trong buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ngày 6-6-2002 là cơ sở và định hướng cơ bản để Đảng bộ, chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của địa phương những năm tiếp theo.

Quán triệt các Nghị quyết của Đảng và ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các vùng và các lĩnh vực; kịp thời đề ra các chỉ thị, nghị quyết và nhiều văn bản về phương hướng phát triển các huyện, thị và các vấn đề kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị…

Là tỉnh nông nghiệp với đại bộ phận dân số sống bằng nghề nông, để kinh tế phát triển bền vững và từng bước nâng cao mức sống của đại bộ phận nhân dân, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng cường chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Ngày 01-11-2002, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 10-NQ/TU “Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thời kỳ 2001-2005”. Sau khi đánh giá thực trạng và kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ khi tái lập tỉnh đến cuối năm 2001, chỉ rõ những thành tựu và hạn chế, Tỉnh ủy đề ra phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thời kỳ 2001-2005: “ Xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới một nền nông nghiệp sạch phát triển bền vững. Tập trung sản xuất nông nghiệp theo hướng: hiện đại hóa, tập trung hóa và chuyên môn hóa, đạt tốc độ tăng trưởng cao trên tất cả các lĩnh vực sản xuất. Lấy hiệu quả kinh tế, xã hội là mục tiêu hàng đầu… Chuyển mạnh nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, lấy năng suất cao, chất lượng cao, hiệu quả kinh tế cao và sức cạnh tranh cao làm mục tiêu phấn đấu. Trên cơ sở nâng cao năng suất, giảm hợp lý và chuyển dần diện tích cây lương thực sang cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao hơn, tạo sự phân công lao động mới ở nông thôn”.

Tỉnh ủy chỉ rõ phương châm phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 2001-2005 là sáu tăng, năm giảm: tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích; tăng năng suất – chất lượng cây trồng, vật nuôi; tăng sản lượng nông sản hàng hóa; tăng kim nghạch xuất khẩu; tăng tỷ trọng tăng nuôi, thủy sản; tăng thu nhập cho nông dân. Giảm dần tỷ trọng cây lương thực; giảm nhanh đất trống, đồi núi trọc; giảm thấp nhất ô nhiễm môi trường; giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, sâu bệnh, dịch bệnh; giảm hộ đói nghèo ở nông thôn. Trong sản xuất nông nghiệp, ưu tiên phát triển sáu loại cây: lúa, ngô, dâu tằm, rau, hoa, cây ăn quả và ba loại con: lợn, bò, thủy sản.

Mục tiêu phấn đấu đến năm 2005 là: tốc độ tăng trưởng nông – lâm nghiệp – thủy sản bình quân 5,5-6%/năm; giá trị xuất khẩu đạt 10 triệu USD trở nên; sản lượng lương thực bình quân đạt 40 vạn tấn/năm; xuất khẩu 8.000 tấn thịt lợn; chăn nuôi 5.000 con bò sữa; sản lượng thủy sản đạt trên 20.000 tấn. Thực hiện Nghị quyết 10 của Tỉnh ủy,  Uỷ ban nhân tỉnh đã xây dựng đề án trên cơ sở sáu cây, ba con được ưu tiên phát triển, triển khai thực hiện 18 dự án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và 15 dự án xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ chuyển dịch cơ cấu nông, lâm nghiệp và chăn nuôi. Trong quá tình tổ chức thực hiện nghị quyết, tỉnh còn ban hành các chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp phát triển như: miễn 100% thủy lợi phí vụ đông, giảm 50% thủy lợi phí vụ chiêm và vụ mùa, đây là một trong những chủ trương và quyết định đi đầu cả nước cả tỉnh Vĩnh Phúc về phát triển kinh tế nông nghiệp, ngoài ra hình thức hỗ trợ nông dân thông qua các dự án, phụ cấp cho khuyến nông cơ sở, cơ chế chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm được Ủy ban nhân dân tỉnh và cấp ủy, chính quyền các cấp, các nghành chuyên môn chú ý quan tâm. Kết cấu hạ tầng, các công trình thủy lợi tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp được tăng cường đáng kể, chương trình kiên cố hóa kênh mương được triển khai xây dựng ở khắp các huyện, thị trong tỉnh đạt kết quả; đáng chú ý là Trạm bơm Thanh Điềm (Chu Phan, Mê Linh) được khởi công xây dựng từ tháng 2-1996, với tổng số vốn đầu tư 42,3 tỷ đồng đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng trong quý I năm 2001, đáp ứng yêu cầu tưới cho 7.574 ha đất canh tác.

Nhờ những nỗ lực trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ và các cấp chính quyền, các ngành, sự năng động, sáng tạo của các huyện nông dân và có nhiều cơ chế, chính sách mới khuyến khích sản xuất phát triển, nên nông nghiệp Vĩnh Phúc có bước tăng trưởng đáng kể, tương đối đống đều ở các ngành và thành phần kinh tế. Trong những năm 2001-2005, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 7%/năm, trong đó: trồng trọt tăng 3,7%, chăn nuôi tăng 13%, thủy sản tăng bình quân 19,5%/năm.

Việc chú trọng các cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao đi đôi với đa dạng hóa cây trồng, đã chuyển từ thế độc canh cây lương thực sang tập trung đầu tư, hình thành một số vùng chuyên canh cây trồng như: dâu tằm ở Yên Lạc, Vĩnh Tường; rau, hoa ở Mê Linh; cây ăn quả ở Lập Thạch, Tam Dương. Hàng năm, tỉnh chuyển hàng nghìn hecta đất trồng lúa sang phát triển công nghiệp, trồng cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng có sự chuyển đổi cơ bản. Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh dẫn đầu miền Bắc về sản xuất ba vụ ổn định trong năm, trong đó vụ Đông là vụ sản xuất hàng hóa. Từ năm 2003, vụ Đông luôn chiếm trên 60% diện tích canh tác. Do tích cực thâm canh và áp dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất nên năng suất thóc đều đạt trên 50 ta/ha. Mặc dù diện tích cây lương thực giảm song sản lượng lương thực vẫn đạt 42,5 vạn tấn năm 2003 và 43,6 vạn tấn năm 2004. Diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng khác đều tăng. Riêng diện tích cây ăn quả các loại tăng nhanh từ 5.633 ha năm 2001 lên 9.500 ha năm 2005.

Ngành chăn nuôi phát triển khá, giá trị sản xuất tăng bình quân 10,1%/năm. Các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi được áp dụng rộng rãi, chất lượng giống gia súc, gia cầm được nâng cao. Các trung tâm giống và dự án về chăn nuôi được triển khai có hiệu quả. Tổng đàn bò tăng từ 99,3 nghìn con năm 2001 lên 141,2 nghìn con năm 2004, trong đó, bò lai chiếm 53,5%... Vĩnh Phúc là tỉnh có đàn bò với số lượng lớn nhất trong các tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng. Tổng số đàn lợn tăng từ 416,8 nghìn con năm 2001 lên 549,6 nghìn con năm 2004, trong đó đàn lơn lai chiếm 95,3%. Toàn tỉnh có 92 trang trại nuôi lợn siêu lạc xuất khẩu. Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng bình quân 6,9%/năm, sản lượng cá nuôi tăng 15,4%/năm.Trên địa bàn tỉnh bước đầu hình thành các mô hình chăn nuôi theo phương thức công nghiệp như: nuôi bò sữa, nuôi lợn hướng lạc xuất khẩu, gà công nghiệp, vịt siêu trứng, siêu thịt, ngan pháp, tôm càng xanh… Nghề nuôi trồng thuy sản được xác định là mũi nhọn đột phá trong chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Năm 2003, nhiều hộ gia đình đã xây dựng trang trại, phát triển nghề cá kết hợp với chăn nuôi gia cầm đạt hiệu quả kinh tế cao. Riêng diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 4.360 ha. Do tích cực mở rộng diện tích và phát triển nuôi trồng thủy sản nên Vĩnh Phúc đã trở thành một trong những tỉnh đầu tiên ở miền Bắc có sản phẩm thủy sản nước ngọt tham gia xuất khẩu.

Trong nghành lâm nghiệp, tỉnh chỉ đạo đẩy mạnh công tác trồng, chăm sóc bảo vệ rừng. Từ năm 2001 đến hết năm 2005, toàn tỉnh trồng mới 5.414 ha rừng, trong đó có 4.214 ha rừng tập trung, 1.200 ha cây phân tán, nâng độ che phủ rừng từ 19% năm 2000 lên 22,6% năm 2003, 23% năm 2004 và 23,7% năm 2005. Việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng được tiến hành thường xuyên, hiện tượng khai thác lâm sản trái phép và cháy rừng giảm. Một số khu rừng được bảo vệ và phát triển như Núi Sáng ( Lập Thạch), rừng Ngọc Thanh (Phúc Yên), rừng Lâm trường Tam Đảo. Đến năm 2005, diện tích rừng được bảo về là 53.797 ha. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lâm nghiệp, tỉnh triển khai chương trình trồng tre lấy măng xuất khẩu, đẩy mạnh tốc độ che phủ rừng, tăng thu nhập cho hộ lâm nghiệp, góp phần cải tạo môi sinh, môi trường.

Do tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nên mặc dù tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 31,1% năm 2001, xuống 26,1% năm 2003 và 23,9% năm 2004, song giá trị thu nhập từ kinh tế nông nghiệp vẫn tăng. Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2002 đạt 1.225,14 tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2001, năm 2004 đạt 2.032 tỷ đồng tăng 4,6% so vơi năm 2003, năm 2005 đạt 2.176,3 tỷ đồng tăng 4,8% so với năm 2004. Giá trị kinh tế trên 1 ha canh tác tăng từ 22 triệu đồng năm 2004. Điều đáng chú ý là cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch tích cực, tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 71,3% xuống còn 60,4% năm 2005, chăn nuôi tăng từ 25,2% năm 2001 lên 34,4% năm 2005, thủy sản tăng từ 2,6% lên 4,5%.

Đối với những hộ gia đình và cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, dịch vụ du lịch và khu đô thị, tỉnh chỉ đạo khẩn trương giao đất để phát triển dịch vụ, đảm bảo sớm ổn định đời sống nhân dân. Hàng năm tỉnh trích ngân sách hỗ trợ đào tạo các ngành nghề, tạo công ăn việc làm mới, có thu nhập cao hơn cho người lao động, nhờ đó đã từng bước chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, góp phần đẩy mạnh đô thị hóa nông thôn, đảm bảo ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, địa phương và người dân.

Do chuyển giao, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về giống cây, con, về thâm canh, chủ động về nước tưới nên mặc dù diện tích gieo trồng giảm nhưng sản lượng lương thực có hạ năm 2005 vẫn đạt 41,3 vạn tấn, tăng 3,3 vạn tấn so với năm 2000. Năm 2005 lần đầu tiên năng suất lúa của tỉnh vượt 50 tạ/ha. Các loại cây rau, hoa, cây ăn quả phát triển mạnh đang dần trở thành nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ xã viên, góp phần giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế trang trại, Vĩnh Phúc khuyến khích phát triển kinh tế trang trại và vườn đồi của nhân dân ngày càng phát huy hiệu quả kinh tế. Toàn tỉnh có gần 500 trang trại, trong đó huyện Mê Linh có 149 trang trại, huyện Vĩnh Tường có 49 trang trại, huyện Lập Thạch có 50 trang trại, huyện Tam Dương có 49 trang trại…Các trang trại tập trung sản xuất một số cây trồng, vật nuôi có tính đặc thù của địa phương; trong đó trang trại vườn đồi trồng cây lâu năm chiếm 14,3%; nuôi trồng thủy sản chiếm 26,1%, sản xuất kinh doanh tổng hợp là 33%. Tổng số vốn của các trang trại khoảng 40 tỷ đồng.

Để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo tăng cường ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp. Quy trình sản xuất và kỹ thuật thâm canh được chuyển giao tích cực và sâu rộng đến từng hộ nông dân. Công nghệ sinh học được áp dụng rộng rãi trong sản xuất lúa, trồng nấm ăn, trồng rau sạch và dâu tằm. Đến cuối năm 2004, toàn tỉnh đã có hơn 50.000 hộ nông dân sử dụng chế phẩm vi sinh học nhằm làm sạch môi trường, phục vụ sản xuất, đời sống, pát triển nông nghiệp sạch, đưa giá trị kinh tế nông nghiệp tăng lên, bộ mặt nông thôn Vĩnh Phúc ngày càng khởi sắc, đời sống của các hộ nông dân được cải thiện và ngày càng nâng cao.

Đi đôi với lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp, Tỉnh ủy đã đề ra các chủ trương và định hướng phát triển, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tập trung quyết liệt để chỉ đạo phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng. Phát triển công nghiệp là khâu đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quyết định tăng trưởng cao, có vai trò tác động trở lại hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và hỗ trợ nâng cao đời sống nhân dân.

Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) “Về đổi mới doanh nghiệp Nhà nước”, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) “Về phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân” và thi hành “ Luật doanh nghiệp Nhà nước”, Tỉnh ủy ra Kết luận số 14 về thực hiện chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đến năm 2005; Ban Thường vụ Tỉnh ủy có Kết luận số 01 về khôi phục phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp. Thực hiện kết luận của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp giai đoạn 2001 – 2010 và định hướng đến năm 2020; xây dựng Đề án phát triển công nghiệp 5 năm (2001-2005); Đề án phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề giai đoạn 2001-2005 và định hướng đến năm 2010.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự chủ động triển khai tích cực của các ngành, các cấp, sản xuất công nghiệp, xây dựng ở Vĩnh Phúc đã duy trì mức tăng trưởng cao ở tất cả các thành phần kinh tế. Gía trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 23%/năm, riêng giá trị sản xuất công nghiệp tăng 23,6%/năm, trong đó công nghiệp nhà nước tăng 8,2%/năm, công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 63,5%/năm, công nghiệp có vốn đầu tư quốc doanh tăng 63,5%/năm, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,6%/năm. Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng năm 2004 đạt 12.958 tỷ đồng; năm 2005 đạt 16.725,7 tỷ đồng. Phần lớn các sản phẩm công nghiệp chủ yếu như: ôtô, xe máy, gạch ốp lát, gạch xây dựng, săm lốp, quần áo may sẵn, da giầy…đều tăng cao và vượt xa mục tiêu Đại hội lần thứ XIII Đảng bộ tỉnh đề ra. Công nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong kinh tế Vĩnh Phúc.

Chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp từng bước được khẳng định, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), doanh nghiệp quốc doanh trung ương. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trung ương. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng có quy mô lớn, trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến. Trên địa bàn tỉnh bước đầu hình thành một số nghành công nghiệp mũi nhọn như: cơ khí, lắp ráp ôtô, xe máy, sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may, da giầy… Những sản phẩm của các ngành công nghiệp mũi nhọn từng bước chiếm ưu thế trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Trong sản xuất công nghiệp, cơ cấu sản xuất hàng hóa có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng giá trị hàng hóa xuất khẩu, hàng tiêu dùng và hàng có chất lượng cao. Hàng loạt khu, cụm công nghiệp tập trung mới được hình thành như: Kim Hoa, Quang Minh, Bình Xuyên,Khai Quang, Chấn Hưng, Xuân Hòa, Hương Canh, Tân Tiến, Hợp Thịnh…

Nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài để phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ,… Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo nhạy bén, vận dụng triệt để Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi), đồng thời ban hành nhiều chính sách ưu đãi đầu tư về thuế và tạo môi trường thông thoáng hấp dẫn để thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, doanh nghiệp tỏng và ngoài nước. Điều đó đã khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư và làm ăn tại Vĩnh Phúc ngày càng nhiều. Trong 5 năm 2001-2005, toàn tỉnh đã thu hút 450 dự án đầu tư, với tổng vốn đăng ký hơn 1,7 tỷ USD, trong đó có 74 dự án FDI (đầu tư trực tiếp vốn nước ngoài), 376 dự án DDI (đầu tư vốn trong nước). Đây là giai đoạn có tốc độ thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp nhanh nhất  kể từ sau tái lập tỉnh. Nhiều doanh nghiệp đã nhanh chóng xây dựng, đi vào sản xuất, đến năm 2005 đã có 139 dự án bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là dự án chế biến sữa của công ty cổ phần sữa Hà Nội với công suất 40 triệu lít/ năm… tạo điều kiện thúc đẩy ngành công nghiệp, chế biến thực phẩm của tỉnh phát triển. Các dự án đi vào hoạt động hiệu quả, góp phần quyết định gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh và giải quyết việc làm cho người lao động. Với sự phát triển nhanh, mạnh và đa dạng của ngành công nghiệp, Vĩnh Phúc ngày càng thay đổi với một diện mạo mới, phát triển và hiện đại, tỉnh trở thành điểm sáng được cả nước biết đến về thành tựu và phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư, sản xuất công nghiệp, thu ngân sách… Vĩnh Phúc đã được Chính phủ quy hoạch vào vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, đó là điều kiện thuận lợi lớn để ngành công nghiệp Vĩnh Phúc tiếp tục bứt phá mạnh trong giai đoạn tiếp theo.

Cùng với phát triển các ngành công nghiệp tập trung, tỉnh quan tâm đầu tư phát triển tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề truyền thống nhằm tăng thu nhập cho nhân dân, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Tỉnh đã tiến hành quy hoạch tổng thể các cụm công nghiệp làng nghề, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện, thị. Năm 2003, tỉnh đã quy hoạch chi tiết 24 cụm công nghiệp làng nghề - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng một số đề án phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Hàng năm, tỉnh bố trí ngân sách để hỗ trợ, khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống. Một số làng nghề truyền thống được khôi phục và ngày càng phát triển như: mộc Bích Chu, Thanh Lãng, thị trấn Yên Lạc; rèn Lý Nhân; đá Hải Lựu; gốm Hương Canh; đan lát Triệu Đề và đang hình thành một số nghề như mây tre đan xuất khẩu, ươm tơ…

Thực hiện “Đề án sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Nhà nước” của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, đến hết năm 2004, toàn tỉnh sắp xếp, chuyển đổi được 30 doanh nghiệp, trong đó, cổ phần hóa 23 đơn vị, giải thể 2 đơn vị, sáp nhập 3 đơn vị, chuyển 2 đơn vị sự nghiệp có thu sang doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích. Năm 2005, 82% doanh nghiệp nhà nước tiến hành hình thức sở hữu. Các doanh nghiệp sau khi chuyển đổi hoạt động hiệu quả hơn, thu nhập của người lao động tăng từ 20 đến 40%.

Kinh tế tư nhân trên địa bàn tiếp tục phát triển cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả. Riêng năm 2004, 300 doanh nghiệp tư nhân được thành lập, đưa tổng số doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp lên 1.077 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký 2.698 tỷ đồng. Hoạt động của thành phần kinh tế tư nhân đã góp phần tích cực vào việc tăng trưởng kinh tế, tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động.

Thực hiên Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) “Về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”, trên cơ sở quán triệt sâu sắc các nội dung của Nghị quyết và Kết luận số 04-KL/TU ngày 1-1-2001 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XIII) “Về đổi mới và phát triển hợp tác xã nông nghiệp gia đoạn 2001-2005”, ngày 18-6-2002, Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng đề án “ Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”. Đề án xác định rõ mục tiêu phấn đấu đến năm 2005 đưa kinh tế tập thể Vĩnh Phúc phát triển rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực, địa bàn, tạo mỗi trường thuận lợi để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển. Tất cả các xã, phường trong tỉnh đều có chuyên nghành, chuyên khâu, nhiều địa phương có hợp tác xã đa ngành và nhiều tổ hợp tác, tổ dịch vụ.

Công tác quản lý nhà nước về xây dựng được chú trọng. Ngành xây dựng tập trung hoành hoàn thành các dự án quy hoạch trọng điểm. Trong 5 năm 2001-2005, đã có hàng trăm dự án, khu cụm công nghiệp, nhiều khu đô thị mới, khu du lịch, khu vui chơi giải trí,trung tâm thương mại, các cụm kinh tế - xã hội, khu dân cư được quy hoạch phê duyệt làm cơ sở để đầu tư xây dựng. Nhiều công trình xây dựng được hoàn thành như nhà văn hóa, nhà thi đấu thể thao, hệ thống cung cấp điện ở Mê Linh với công suất 40.000 KVA, hệ thống cấp nước ở thị xã Vĩnh Yên, Tam Đảo, Yên Lạc, khởi công xây dựng hệ thống cấp nước ở thị xã Phúc Yên, nâng cấp trạm điện 110 KV ở Vĩnh Yên… Từ năm 2004, Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Xây dựng chỉ đạo một số địa phương tiến hành đấu giá đất để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; thực hiện một số dự án xây dựng khu đô thị mới cao cấp, hiện đại ở huyện Mê Linh, Thị xã Vĩnh Yên; tiến hành đền bù, giải phóng mặt bằng tại các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ và tuyến đường giao thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh đảm bảo tiến độ thi công. Từ năm 2001, tỉnh bắt đầu chỉ đạo nghiên cứu, khởi công nâng cấp quốc lộ số 2 đoạn từ Hà Nội đến Vĩnh Yên bằng phương thức BOT.

Để thúc đẩy hai ngành mũi nhọn là công nghiệp và dịch vụ, tỉnh tập trung đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu di tích tập trung, khu vui chơi giải trí và cải tạo nâng cấp quốc lộ, tỉnh lộ và các đường liên huyện, liên xã, các tuyến đường chính của thị xã Vĩnh Yên, Phúc Yên. Từ năm 2001 đến năm 2005, Vĩnh Phúc xây dựng hơn 250 km tỉnh lộ, huyện lộ và đường nội thị, xây dựng mới hơn 20 km đường điện chiếu sáng tại các thị xã, thị trấn đảm bảo 100% đô thị có điện chiếu sáng, xây dựng cơ sở vật chất các trường; Chính trị, Cao đẳng sư phạm, Đào tạo nghề, Trung học Y tế; cơ bản hoàn thành xây dựng Bệnh viện đa khoa tỉnh, nâng cấp các trung tâm y tế huyện, thị xã. Năm 2003, vốn đầu tư cơ bản trên địa bàn tỉnh đạt gần 6.200 tỷ đồng, năm 2004 tăng lên 6.271,6 tỷ đồng. Tổng số vốn huy động trên địa bàn năm 2005 tăng gấp 9 lần năm 2000. Trong xây dựng cơ bản, thực hiện chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm, phong trào làm đường giao thông nông thôn phát triển rộng khắp các địa phương trong tỉnh. Đến giữa năm 2005, tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng được 500 km đường thôn xóm; kiên cố hóa 1.973 km đường giao thông nông thôn, đạt 53% (mục tiêu Đại hội 30-40%); cứng hóa trên 60 km mặt đê các loại; xây mới và nâng cấp một số trạm điện, trạm biến áp, đường hạ thế ở nông thôn. Việc phát triển mạnh mẽ kết cấu hạ tầng nông thôn với hệ thống điện, đường, trường, trạm tạo ra bước thay đổi căn bản bộ mặt các miền quê của Vĩnh Phúc.

Cùng với sự tăng trưởng cao của kinh tế công nghiệp, hoặt động thương mại, dịch vụ chuyển biến tích cực, tỉnh chủ trương xây dựng phát triển các trung tâm thương mại, các chợ nhằm thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa trên địa bàn, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và đời sống. Kinh doanh thương mại diễn ra sôi động, đảm bảo lưu thông hàng hóa trong và ngoài tỉnh. Tổng mức hàng hóa bán lẻ tăng 1,5 lần. Hoạt động xuất, nhâp khẩu đạt kết quả cao. Tổng kim nghạch xuất khẩu năm 2003 đạt 82,17 triệu USD, năm 2004 đạt 132,6 triệu USD, tăng 47,8% so với năm 2003, năm 2005 đạt hơn 180 triệu USD (tăng gấp hơn bốn lần so với mục tiêu Đại hội đề ra). Kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh, năm 2003 đạt 150,6 triệu USD, năm 2004 đạt 316,7 triệu USD.

Hoạt động dịch vụ có bước chuyển biến tích cực, đa dạng. Tổng giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân 11,8%/năm. Ngành Bưu chính viễn thông được tăng cường đầu tư, hiện đại hóa các trang thiết bị. Đến năm 2005, 100% số xã trên địa bàn tỉnh có điểm Bưu điện văn hóa, nhiều nơi đã đầu tư được cả Internet phục vụ nhân dân. Toàn tỉnh có 78.101 máy điện thoại, bình quân có 6,7 máy điện thoại/100 dân. Mạng điện thoại di động được phủ sóng hầu hết đên các vùng sâu, vùng xa của tỉnh…Ngành điện của tỉnh được quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, Mạng lưới điện và chất lượng điện không ngừng được cải thiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân.

Hưởng ứng chương trình du lịch quốc gia “Việt Nam điểm đến của thiên niên kỷ mới” do Bộ Văn hóa – Thông tin và tổng cục Du lịch phát động, ngày 12-8-2002, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Kết luận số 19 về chương trình phát triển du lịch, nhằm khai thác mọi tiềm năng thế mạnh của tỉnh về du lịch. Hàng loạt các dự án về dịch vụ, du lịch được triển khai trên địa bàn tỉnh, trong đó tỉnh tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp các khu du lịch, khu vui chơi giải trí trong jđiểm như: Khu du lịch nghỉ mát Tam Đảo, xây dựng Thiền viện trúc lâm Tây Thiên, Sân Golf Tam Đảo (Tam Đảo), Đại Lải (PhúcYên) và triển khai quy hoạch khu du lịch sinh thái Đâm Vạc (Vĩnh Yên)… Hàng loạt dịch vụ, nhà hàng, khách sạn sang trọng, hiện đại đã và đang được triển khai đầu tư xây dựng…đã chuẩn bị cho một diện mạo mới về phát triển du lịch của Vĩnh Phúc trong thế kỷ XXI.

Hoạt động tín dụng, ngân hàng, tài chính có nhiểu đổi mới, chất lượng được nâng lên. Một số lĩnh vực ngân hàng mới được mở ra phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư tín dụng, ngân hàng tập trung và bám sát vào thực hiện 10 chương trình kinh tế - xã hội của tỉnh, đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đến năm 2005, huy động vốn tăng gấp hơn bốn lần, dư nợ cho vay tăng hơn 4,3 lần so với năm 2000. Các dịch vụ tài chính, bảo hiểm có bước phát triển khá so với giai đoạn 1996 – 2000.

Sự tăng trưởng nhanh của hầu hết các ngành kinh tế đã tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách tỉnh. Ngay từ những năm đầu thế kỷ XXI, Vĩnh Phúc đã nhanh chóng trở thành một trong những địa phương năm trong câu lạc bộ 1.000 tỷ đồng của cả nước. Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng nhanh theo từng năm, từ 1.612,3 tỷ đồng năm 2002 lên 1.895 tỷ đồng năm 2003, năm 2004 đạt 2.400 tỷ đồng và năm 2005 đạt 3.440,5 tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt 2.731,5 tỷ đồng tăng 68,6% so với cùng kỳ. Tốc độ tăng bình quân hàng năn 36,46%. Thu nội địa tăng nhanh, bình quân tăng 55%/năm và chiếm 78,7% tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Đến năm 2005, Vĩnh Phúc đứng thứ sáu toàn quốc và đứng thứ hai miền Bắc về thu nội địa. Do nguồn thu tăng nên đã đảm bảo chi ngân sách địa phương hàng năm tăng gấp hơn hai lần so với những năm 1997-2000. Riêng năm 2005, chi tăng 2,5 lần so với năm 2000, trong đó, chi đầu tư phát triển bình quân chiếm trên 40%/năm. Sự phát triển nhanh về kinh tế những năm đầu thế kỷ XXI đã tạo ra một diện mạo mới và vị thế mới cho tỉnh Vĩnh Phúc. Từ một địa phương nghèo, thu ngân sách thấp, phần lớn chi ngân sách phải dựa vào điều tiết của Trung ương, đến năm 2004, tỉnh đã tự cân đối được thu, chi ngân sách và đóng góp cho ngân sách Trung ương 14% tổng thu nội địa. Vĩnh Phúc trở thành một trong tám tỉnh trong cả nước cân đối được nguồn thu, chị và có đóng góp cho ngân sách Trung ương.

Do tổng thu nhập trên địa bàn tăng cao nên thu nhập bình quân đầu người năm 2004 đạt 6,8 triệu đồng, tương đương 430 USD, năm 2005 đạt 515 USD, vượt xa mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề ra là 350USD/người. Công tác xóa đói giảm nghèo được triển khai mạnh mẽ trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó tập trung vào những xã nghèo, do đó tỷ lệ hộ nghèo đến hết năm 2004 giảm còn 7%, đến cuối năm 2005 giảm còn 5,6 tương đương 12.606 hộ. Đã cơ bản xóa xong nhà tre tranh, dột nát cho hộ nghèo. Đời sống vật chất của nhân dân không ngừng được cải thiện. Các công trình thuộc kết cấu hạ tầng, vật chất, kỹ thuật ngày càng được hoàn thiện.

Đi đôi với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế Đảng bộ Vĩnh Phúc chú trọng chỉ đạo các hoạt động văn hóa – xã hội.

Ngày 29-7-2002, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 04-NQ/TU “Về phát triển giáo dục – đào tạo thời kỳ 200-2005”, chỉ rõ: Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh “Nỗ lực phấn đấu làm cho giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu; tạo bước chuyển biến mạnh mẽ đối với giáo dục của tỉnh theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đại trà ở tất cả các ngành học theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến, phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hướng tới một xã hội học tập; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở; thực hiện tốt phân luồng sau trung học cơ sở và trung học phổ thông. Tiếp đó, ngày 111-6-2003, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 15-NQ/TU :Về đẩy mạnh công tác khuyến học, phát triển các Trung tâm học tập cộng đồng, hướng tới xây dựng một xã hội học tập”.

Thực hiện Nghị quyết số 04 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 15 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, sự nghiệp giáo dục – đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc phát triển đồng bộ cả quy mô, chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên. Mạng lưới trường, lớp các cấp học được củng cố và mở rộng, với nhiều loại hình khác nhau như: trường công lập, bán công, dân lập, các trường chuyên nghiệp, dạy nghề… Hàng năm. Phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” được đông đảo thầy, cô giáo và học sinh của tỉnh hưởng ứng. Vì thế, chất lượng giáo dục, đào tạo ngày càng tiến bộ. Tỷ lệ học sinh thi tốt nghiệp phổ thông, đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệp và đạt giả tại các kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia, quốc tế ngày càng tăng. Tỉnh đã đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và năm 2002 hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Năm 2004, Vĩnh Phúc là một trong bảy tỉnh dẫn đầu cả nước về giáo dục, đào tạo. Cùng với hệ thống giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục thường xuyên và đào tạo nghề tại tỉnh ngày càng được chú tọng đầu tư. Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ giảng dạy và học tập được tăng cường, tỷ lệ phòng học kiên cố ở bậc học phổ thông đạt 70% tăng 23%. Đội ngũ giáo viên được bổ sung về số lượng và từng bước nâng cao về chất lượng với gần 100% giáo viên phổ thông đạt chuẩn. Công tác xã hội hóa giáo dục được các cấp, nghành, các địa phương quan tâm phát triển. Đến năm 2005, 100% xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng.

Trong những năm đầu thế kỷ XXI, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ và nền kinh tế tri thức, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm đầu tư và phát triển khoa học, công nghệ để phục vụ sản xuất và đời sống. Tiếp tục quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) và Đề án số 01 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về phát triển khoa học, công nghệ, ngày 3-12-2002, Ban Thưởng vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 13/NQ-TU :Về phát triển khoa học công nghệ và môi trường đến năm 2010”. “Khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội; là nội dung then chốt cho mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp; là nhân tố chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố quốc phòng; là sự nghiệp cách mạng toàn dân, phát huy năng lực nội sinh kết hợp với tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường, đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội và bền vững”.

Trước hết, lấy tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ mới là chính, lấy hiệu quả kinh tế, xã hội làm thước đo; xây dựng các chương trình khoa học, công nghệ đi đôi với phát động phong trào lao động sáng tạo quần chúng.

Quán triệt Nghị quyết số 13 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Khoa học, Công nghệ - Môi trường tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành, địa phương đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tích cực đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân kỹ thuật cho các khu công nghiệp cà các ngành: điện, điện tử, tin học, bưu chính viễn thông, ngân hàng, tài chính, nông nghiệp… Số lượng các đề tài khoa học được đăng ký thực hiện ngày càng tăng. Riêng năm 2004 đã có 66 đề tài, dự án khoa học được phê duyệt thực hiện. Từ năm 2001 đến năm 2005 đã có 242 đề tài khoa học được nghiệm thu, trong đó có 65,7% đề tài được ứng dụng vào sản xuất và đời sống, bước đầu đạt hiệu quả. Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong các cơ quan tỉnh, nhất là ngành bưu điện, ngân hàng. Chương trình tin học hóa được triển khai trong các cơ quan đảng, nhà nước bước đầu thu được một số kết quả tích cực.

Ngày 3-10-2002, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 09/NQ-TU “Về xây dựng Gia đình văn hóa – Làng văn hóa, đơn vị văn hóa đến năm 2005”. Tỉnh ủy chỉ rõ, xây dựng Gia đình văn hóa, Làng văn hóa và Đơn vị văn hóa là trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và toàn thể nhân dân trong tỉnh. Thực hiện Nghị quyết số 09 của Tỉnh ủy, phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và công tác xây dựng Gia đình văn hóa, Làng văn hóa, Đơn vị văn hóa phát triển rộng khắp. Đến năm 2005, có 80% gia đình và 50% làng đạt tiêu chuẩn văn hóa. Các thiết chế văn hóa được tăng cường một bước. Đời sống văn hóa có nhiều khởi sắc. Hoạt động văn hóa thông tin có nhiều bước phát triển mới với hệ thống truyền thanh, truyền hình phủ sóng tới tất cả các địa phương trong tỉnh. Thư viện tổng hợp của tỉnh và thư viện các huyện, thị, xã, phường, thị trấn trên địa bàn được củng cố một bước. Các hoạt động báo chí, xuất bản, văn học nghệ thuật có tiến bộ. Nội dung, chất lượng, hình thức các báo, tạp chí và các tác phẩm văn học nghệ thuật được nâng lên. Hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn hóa truyền thống được các cấp ủy Đảng và ngành văn hóa quan tâm. Từ năm 2001 đến năm 2005, nhiều di tích lịch sử văn hóa quan trọng, danh thắng nổi tiếng của tỉnh được quy hoạch tổng thể thành các dự án lớn để đâu tư xây dựng, tôn tạo như: Đền thờ Hai Bà Trưng, Thiền viện Trúc lâm Tây Thiên, Chùa Hà, Đền Thính, di chỉ khảo cổ Đồng Đậu và nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật khác đầu tư tu bổ tôn tạo… Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa thông tin được chú trọng hơn trước, nhằm lập lại trật tự trên lĩnh vực văn hóa như: quản lý các quán Karaoke, khai thác mạng internet, buôn bán băng, đĩa, các dịch vụ văn hóa tại các khu du lịch…

Nhân dịp kỷ niệm 113 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2003) và 40 năm Bác Hồ về thăm tỉnh Vĩnh Phúc (2-3-1963 – 2-3-2003), Tỉnh ủy đã phát động phong trào thi đua làm theo lời Bác và xây dựng Nhà lưu niệm Bác Hồ trên quê hương Vĩnh Phúc. Tỉnh xuất bản cuốn sách “Vĩnh Phúc làm theo lời Bác” và tổ chức mít tinh long trọng Kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm Vĩnh Phúc.

Hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng ngày càng phát triển khắp trên địa bàn tỉnh, số người tham gia luyện tập, rèn luyện sức khỏe ngày càng tăng, trở thành phong trào rộng rãi trong các cơ quan, đơn vị, các địa phương trên địa bàn tỉnh. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao được tăng cường thường xuyên, tỉnh đã hoàn thành xây dựng nhà thi đấu thể thao đa năng, nhiều công trình phục vụ luyện tập, thi đấu thể thao được các cấp, các ngành đầu tư xây dựng, sửa chữa nâng cấp, đáp ứng nhu cầu luyện tập. Đáng chú ý là thể thao thành tích cao bước đầu được chú ý quan tâm, một số môn thế mạnh của tỉnh được duy trì và đạt kết quả cao tại các giải quốc gia như: Bắn súng, Bắn nỏ, Bắn cung, Vật, Bóng chuyền, Điền kinh… Tại Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ IV năm 2002, Vĩnh Phúc lần đầu tiên giành được Huy chương Vàng Đại hội, nhiều gương mặt trẻ của Vĩnh Phúc đạt đẳng cấp quốc gia và tham gia thi đấu quốc tế. Năm 2003, cùng với cả nước, tỉnh đã đăng cai tổ chức thành công môn thi đá cầu SEAGAMES 22. Để phong trào thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao của tỉnh tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã ra Kết luận số 62 về quy hoạch phát triển sự nghiệp Thể dục thể thao của tỉnh đến năm 2010, thực hiện kết luận của Tỉnh ủy, ngày 28-7-2004 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển sự nghiệp thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2010.

Để đảm bảo sự phát triển bền vững và thực hiện Chương tình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình do Đại hội lần thứ XIII Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đề ra, giữa năm 2002, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc phê duyệt Đề án “ Thực hiện chương trình dân số tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2010”. Tỉnh ủy xác định, công tác dân số, gia đình và trẻ em cần phải được quan tâm thường xuyên hơn, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động nhằm tiếp tục giảm tỷ lệ phát triển dân số, duy trì ổn định mức sinh thay thế; củng cố và phát huy các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam, đảm bảo cho mọi thành viên trong gia đình đều được chăm sóc, bảo vệ và có cơ hội phát triển tốt nhất. Tiếp đó, ngày 25-6-2003, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 16-NQ/TU :Về Chương trình Dân số - Gia đình và Trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2005 và 5 năm 2005-2010”. Phương hướng tổng quát đến năm 2005-2010 là quán triệt Nghị quyết Hội nghi lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về dân số, kế hoạch hóa gia đình, nắm vững Pháp lệnh dân số, chiến lược dân số và Chương trình hành động vì trẻ em đến năm 2010 của Chính phủ làm cơ sở để xây dựng phương hướng, nhiệm vụ thực hiện công tác dân số - gia đình và trẻ em của tỉnh giai đoạn 2003 – 2005 và đến năm 2010. Tiếp tục giảm sức ép của việc gia tăng dân số. Duy trì và củng cố mô hình gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân. Đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em, tạo môi trường an toàn, lành mạnh, phù hợp cho trẻ em phát triển toàn diện. Ngày 9-6-2004, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 22-NQ/TU “Về phát triển sự nghiệp y tế, chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010”.

Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, các cấp, các ngành, các địa phương trong tỉnh tiếp tục chú trọng đến sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở được tăng cường về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ. Đến năm 2005, toàn tỉnh có 98,7% số trạm y tế, 21,7% trạm y tế cơ sở đạt chuẩn quốc gia; 88,8% trạm y tế cơ sở có bác sỹ, đạt tỷ lệ 4 bác sỹ/1 vạn dân. Cán bộ bác sỹ được đào tạo thường xuyên, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, ngày càng đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân. Trang thiết bị khám, chữa bệnh được đầu tư, nhất là bệnh viện tỉnh và bệnh viên đa khoa các huyện, thị xã. Chất lượng khám, chữa bệnh từng bước được nâng lên. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai sâu rộng và đạt kết quả khá. Tỷ lệ trẻ em tiêm đủ sáu loại vawcsxin đạt 99%, độ phủ muối iốt trên địa bàn tỉnh đạt 95%. Công tác vệ sinh, phòng dịch được các cấp, các ngành, các địa phương và ngành y tế quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt nên trong vòng 5 năm (2001-2005) trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra.

Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được triển khai rộng khắp và đạt hiệu quả tốt. Sau khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh Dân số, để giúp nhân dân hiểu đúng những quy định mới của Pháp lệnh, ngành y tế và hệ thống tuyên truyền viên kiên trì tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức  của người dân về chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình của Nhà nước và tỉnh. Vì thế, tình trạng tăng dân số đột biến không xảy ra ở tỉnh Vĩnh Phúc. Tỷ suất sinh hàng năm giảm bình quân 0,45%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2005 còn 1,2%. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được quan tâm thường xuyên. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ e dưới 5 tuổi còn 25%, giảm 9%.

Song song với việc tập trung phát triển kinh tế, văn hóa Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của nhân dân. Ngày 28-01-2002, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 04 “Về chương trình xóa đói giảm nghèo và việc làm tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2002-2005:, triển khai Nghị quyết 04, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ đạo chính quyền các cấp, các ngành, đoàn thể trong tỉnh đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo. Kết quả, trong 5 năm 2001-2005, bình quân mỗi năm tỉnh giải quyết việc làm cho 19,2 nghìn lao động, tăng 2,6%/năm. Đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. Thu nhập bình quân đầu người năm 2004 đạt 430 USD, năm 2005 đạt 515 USD. Số hộ giàu không ngừng tăng lên, số hộ nghèo giảm xuống còn 5,6%/2005, bình quân giảm 1,25%/năm. Phong trào “Uống nước, nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa”, Quỹ ngày “Vì người nghèo” được đông đảo nhân dân hưởng ứng tham gia. Đến năm 2005, tòan tỉnh xây dựng được 4.865 Nhà tình thương và Nhà đại đoàn kết, đồng thời xóa xong nhà tạm, nhà tranh tre, nứa lá. Chính sách xã hội đối với các đối tượng chính sách như thương binh, thân nhân liệt sỹ, người già yếu cô đơn, người nghèo, các học sinh nghèo vượt khó, người tàn tật, người nhiễm chất độc màu da cam diosin, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng…được cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, các cấp, các đoàn thể quần chúng trong tỉnh quan tâm thực hiện tốt. Hàng năm các chính sách hỗ trợ về y tế, về giáo dục đào tạo, an sinh xã hội, dự án tín dụng cho vay ưu đãi hộ nghèo, hỗ trợ sản xuất, phát triển làng nghề… đối với người nghèo được duy trì thường xuyên.

Đi đôi với việc tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ Vĩnh Phúc chú trọng gìn giữ ổn định chính trị, xã hội. Bước vào thế kỷ XXI, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, đặc biệt là mặt trái cơ chế thị trường đã tác động xấu đến an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Trên địa bàn tỉnh, một số nơi xảy ra những diễn biến phức tạp như: tranh chấp ruộng đất, tệ nạn xã hội (cờ bạc, rượu chè, ma túy, mại dâm…) , Mặt khác các thế lực thù địch tiếp đẩy mạnh chiến lược “Diến biến hòa bình” bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 08 về “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia”, Chính phủ ra Nghị quyết số 09 về “Chương trình hành động phòng chống ma túy giai đoạn 2001-2005”. Quán triệt các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ, ngày 27-01-2002, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 12-NQ/TU “Về tăng cường công tác lãnh đạo, đảm bảo an ninh nông thôn trên địa bàn tỉnh”. Nghị quyết Tỉnh ủy nêu rõ phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, và các giải pháp nhằm giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

Cùng với việc tăng cường giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, Tỉnh ủy chú trọng lãnh đạo các cấp ủy Đảng quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, ngày 9-6-2004, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 21-NQ/TU “Về lãnh đạo nhiệm vụ diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh năm 2004”. Mục tiêu của đợt diễn tập phòng thủ nhằm tập dượt quá trình chuyển lực lượng vũ trang từ trạng thái sẵn sàng chiến đấu thường xuyên lên cao, chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến, giữ vững an ninh chính trị, đối phó với các tình huống can thiệp vũ trang của các thế lực thù địch.

Quán triệt các chủ trương của Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác an ninh, quốc phòng, các cấp ủy Đảng, chính quyền và các địa phương đã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác an ninh, quốc phòng, từng bước kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng. Phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh và có bước phát triển mới. Lực lượng công an các cấp đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tập trung chỉ đạo thực hiên có hiệu quả Nghị quyết 09-NQ/CP của Chính phủ. Trong 5 năm 2001-2005, lực lượng Công an tỉnh điều tra, làm rõ trên 70% số vụ phạm pháp hình sự, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn văn hóa, an ninh nông thôn, từng bước kiềm chế và giảm tai nạn giao thông.

Thực hiện Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 6-3-2002 của Ban Bí thư “Về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay” Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Thông tri số 11 để chỉ đạo thực hiện, thành lập tổ kiểm tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo ở các huyện, thị và một số sở, ngành của tỉnh. Tập trung chỉ đạo giải quyết các vụ việc nổi cộm phức tạp ở các xã: Tứ Trưng, Chấn Hưng, Vân Xuân, Việt Xuân (Vĩnh Tường); Phúc Thắng. Liên Mạc, Ngọc Thanh, Quang Minh, Thạch Đà (Mê Linh); Đạo Tú ( Tam Dương); Yên Phương ( Yên Lạc); đồng thời giải phóng mặt bằng các khu công nghiệp, Quốc lộ 2A, 2B, 2C, đảm bảo ổn định tình hình, xử lý vi phạm đúng pháp luật.

Tỉnh cũng đã tập trung xem xét giải quyết dứt điểm một số vụ việc phức tạp, khiếu kiện đông người, kéo dài. Nhờ vậy, tình trạng kiếu nại, tố cáo bức xúc đã giảm; khiếu nại vượt cấp được hạn chế, góp phần kiềm chế không để các điểm phức tạp trở thành điểm nóng. Chất lượng công tác tư pháp ở các khâu điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và các hoạt động bổ trợ tư pháp có chuyển biến rõ nét, hạn chế oan sai, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Công tác giáo dục quốc phòng được tăng cường bằng nhiều hình thức. Hàng năm, cơ quan quân sự các cấp đã làm tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tổ chức thành công các đợt diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, huyện; diễn tập phân lũ, chặn lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, nhất là đợt diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh và thị xã Vĩnh Yên năm 2004. Đi đôi với chính quy, hiện đại hóa lực lượng quân sự chuyện nghiệp, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng trận địa quốc phòng toàn dân và thực hiện Pháp lệnh về quân sự tự vệ, công tác giáo dục, huấn luyện, quân sự cho các lực lượng dân quân tự vệ được quan tâm. Đồng thời, các địa phương cũng triển khai có hiệu quả nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị đủ nguồn dự bị động viên. Công tác tuyển quân hàng năm thực hiện đúng luật, đảm bảo chỉ tiêu, chất lượng và đúng thời hạn quy định. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và nhiều năm được Quân khu II tặng Bằng khen và Cờ thi đua xuất sắc. Những năm đầu thế kỷ XXI, công tác an ninh, quốc phòng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo ra thế trận vững chắc ở cửa ngõ tây bắc Thủ đô Hà Nội.

Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố. Tỉnh ủy xây dựng Đề án số 01 về sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giảm biên chế khối cơ quan Đảng, đoàn thể. Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng Đề án số 1204/ĐA-UB sắp xếp lại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấp theo Nghị định số 12 của Chính phủ, gắn chặt với chương trình sắp xếp bộ máy, tinh giảm biên chế, nâng cao năng lực hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền các cấp.

Thực hiện chủ trương trên, tỉnh đã chỉ đạo từng bước sáp nhập Ủy ban Dân số - kế hoạch hóa gia đình và Ủy ban Bảo vệ, chăm sóc trẻ em thành Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em; chuyển Ban Quản lý khu nghỉ mát Tam Đảo vào Sở Địa chính thành Sở Khoa học Công nghệ môi trường và Sở Địa chính thành Sở khoa học Công nghệ và Sở Tài nguyên Môi trường; thành lập Sở Bưu chính viễn thông; thành lập Văn phòng đoàn Đại biểu Quốc hội; thành lập Văn phòng Hội đồng nhân dân; thành lập Ban Dân tộc, tôn giáo tỉnh; tách Sở Văn hóa, thông tin, thể thao thành Sở Văn hóa thông tin và Sở Thể dục thể thao; thành lập một số trung tâm trực thuộc các Ban Xây dựng Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Tiến hành rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ một số phòng, ban chuyên môn thuộc các sở, ngành và Ủyban nhân dân các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh. Kiện toàn củng cố Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, coi trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng các kỳ họp, tăng cường vai trò kiểm tra, giám soát, phát huy dân chủ, bàn và quyết định các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Cùng với việc củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị các cấp, ngày 9-12-2003, Chính phủ ra Nghị định số 153 về việc thành lập thị xã Phúc Yên và huyện Tam Đảo. Tính đến năm 2005, tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 9 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, trong đó có 7 huyện, 2 thị xã; bao gồm 152 xã, phường, thị trấn, trong đó có 39 xã miền núi tập trung ở 2 huyện miền núi Lập Thạch và Tam Đảo.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, ngày 25-4-2004, cử tri Vĩnh Phúc hăng hái tham gia bầu Đại biểu Quốc hội khóa XI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009, đảm bảo dân chủ, đúng luật, an toàn và tiết kiệm với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu đạt trên 98%, trong đó có 65/152 xã, phường, thị trấn tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử đạt 100%. Kết quả cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp như sau: cấp tỉnh, số đại biểu ứng cử là 85, số đại biểu bầu cử là 53, số đại biểu trúng cử là 53; cấp huyện, số đại biểu được ứng cử là 492, số đại biểu được bầu cử là 324, số đại biểu trúng cử là 319; cấp xã, số đại biểu trúng cử là 3.870 người. Ngày 9-5-2004, tỉnh đã tổ chức cuộc bầu cử lại, bầu cử thêm đối với Hội đồng nhân dân cấp xã, kết quả đã bầu được 47 đại biểu. Sau bầu cử, Ủy ban nhân dân các cấp trong tỉnh đã nhanh chóng được củng cố, kiện toàn và đi vào hoạt động theo luật định. Ngày 24-5-2004, tại kỳ họp thứ nhất, Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc khóa XIV, nhiệm kỳ 2004-2009, đồng chí Trịnh Đình Dũng với sự tín nhiệm cao đã được bầu cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; đồng chí Nguyễn Ngọc Phi được bầu giữ chức Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Đến nay, hệ thống chính trị cơ quan Đảng, chính quyền, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội, các hội quần chúng, hội nghề nghiệp từ tỉnh đến cơ sở đã được sắp xếp kiện toàn xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và đi vào hoạt động có hiệu quả, phát huy tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý nhà nước và vận động nhân dân.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) “Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở  xã, phường, thị trấn”, Tỉnh ủy tập trung chỉ đạo ủy ban nhân dân các cấp từng bước nâng cao năng lực quản lý, điều hành. Vai trò quản lý nhà nước về đất đai, thu chi ngân sách, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép đầu tư được tăng cường. Chính quyền các cấp quan tâm giải quyết các vụ việc phức tạp, khiếu nại, tố cáo của công dân; chỉ đạo tích cực công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng; tập trung giải quyết các vấn đề xã hội (phòng chống tội phạm, tệ nạn ma túy, mại dâm), kiềm chế tai nạn giao thông, từng bước lập lại trật tự, kỷ cương xã hội theo pháp luật. Chính quyền cơ sở, hoạt động của chính quyền các cấp được đổi mới theo hướng gần dân và sát dân hơn, đồng thời quan tâm bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân, từng bước khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp có nhiều đổi mới trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với chính quyền các cấp tổ chức các phong trào thi đua và triển khai các cuộc vận động sâu rộng trong quần chúng; chú trọng hướng về cơ sở, sát cơ sở, quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các tôn giáo, vùng có nhiều khó khăn để gáo dục nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước; vận động nhân dân đoàn kết, giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp, chính đáng, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở…

Mặt trận Tổ quốc phát huy vai trò trung tâm đoàn kết các tầng lớp nhân dân tham gia có hiệu quả vào việc giám sát hoạt động của các tổ chức Đảng, chính quyền. Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, hưởng ứng chủ trương của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về ủng hộ “Qũy Vì người nghèo”, Mặt trận Tổ quốc tỉnh Vĩnh Phúc đã phát động phong trào Toàn dân ủng hộ Qũy Vì người nghèo của tỉnh. Sau mấy năm phát động, các tổ chức, cá nhân trong tỉnh Vĩnh Phúc đã quyên góp được hàng chục tỷ động để xây dựng các ngôi nhà đại đoàn kết. Đến năm 2005, Vĩnh Phúc căn bản xoá xong nhà tre, nứa lá. Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc tỉnh phát động sâu rộng trong toàn dân các phong trào; Ủng hộ người nghèo, phong trào Đền ơn đáp nghĩa và phong trào : Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”…

Liên đoàn Lao động tỉnh Vĩnh Phúc chỉ đạo Công đoàn các cấp vân động, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giai đoạn cấp công nhân để từng bước nâng cao trình độ kiến thức mọi mặt cho công nhân lao động, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với chức năng, nhiệm vụ được giao, Công đoàn các cấp làm tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của người lao động. Hoạt động của Công đoàn từng bước đổi mới với nội dung và phương thức hoạt động theo phương châm hướng về cơ sở.

Hội nông dân các cấp tích cực vận động nông dân thi đua lao động sản xuất, chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; tham gia xây dựng hệ thống chính trị, góp phần vào việc ổn định tình hình kinh tế, xã hội ở nông thôn.

Hội phụ nữ các cấp trong tỉnh tổ chức nhiều phong trào thi đua như: xóa đói, giảm nghèo, kế hoạch hóa gia đình, nuôi con khỏe, dạy con ngoan, xây dựng Gia đình văn hóa…và vận động phụ nữ tham gia vào nhiều hoạt động xã hội khác.

Lực lượng thanh niên trong tỉnh chiếm trên 30% dân số và khoảng 55% lực lượng lao động. Đại đa số thanh niên có sức khỏe, kiến thức, có đạo đức và lối sống lành mạnh, có ý chí vươn lên, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, sẵn sàng đi đầu trên mọi lĩnh vực. Đó là nguồn nhân lực quan trọng để Vĩnh Phúc tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí của thanh niên những năm đầu thế kỷ XXI, các cấp ủy đảng, chính quyền, đã tạo điều kiện cho Đoàn thanh niên và Hiệp Liên hiệp thanh niên các cấp tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt là phong trào “Thanh niên tình nguyện” và “Tuổi trẻ giữ nước”. Từ trong các phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều tấm gương điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất, trong đấu tranh phòng chống tội phạm, trong việc phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Để tập hợp, thu hút đông đảo đoàn viên, Đoàn thanh niên và Hội Liên hiệp thanh nien các cấp từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo sát cơ sở, sát đối tượng. Tuy nhiên, nội dung, phương thức hoạt động của tổ chức Đoàn và Hội Liên hiệp thanh niên các cấp chưa có sức hấp dẫn đối với thanh niên nên chưa lôi cuốn được đông đảo thanh niên tham gia, tỷ lệ tập hợp thanh niên còn thấp so với yêu cầu. Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa có tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội Liên hiệp thanh niên.

Hội cựu chiến binh đã vận động hội viên phát huy truyền thống “Bộ đội cụ Hồ” tham gia tích cực các phong trào: Xóa đói, giảm nghèo, giúp nhau làm kinh tế, xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng làng văn hóa, ông bà, cha mẹ mẫu mực… đồng thời tham gia các công việc chính trị, xã hội của địa phương, tham gia hòa giải và giải quyết các vụ việc phức tạp ở cơ sở…

Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới”, ngày 11-11-2002 Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 11-NQ/TU “Về một số nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng trong thời gian tới”. Nghị quyết chỉ rõ “ Đoàn kết thống nhất, nêu cao ý chí tự lực tự cường, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, cổ vũ động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, đẩy mạnh phong trào hành động cách mạng, không ngừng đổi mới nội dung hình thức và phương pháp công tác tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu và 10 chương trình kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2005”.

Để nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp thường xuyên chăm lo giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị. Mở rộng và phát huy dân chủ, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết, thống nhất trong Đảng, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên. Đổi mới và nâng cao chất lượng việc ra nghị quyết và tổ chức quán triệt, học tập, triển khai nghị quyết. Qúa trình tổ chức thực hiện nghị quyết phải được cụ thể hóa thành các chương trình, đề án cụ thể, có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng, kiểm tra thường xuyên nhằm nhanh chóng đưa nghị quyết vào cuộc sống. Nhân dịp kỷ niệm 75 năm thành lập Đảng và 55 năm ngày thành lập tỉnh Vĩnh Phúc, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã tổ chức lễ mít tinh trọng thể.

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội các cấp nhiệm kỳ 2001-2005, từ ngày 02-03-10-2003, Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc được tổ chức. Hội nghị đã đánh giá và khẳng định những thành tựu đạt được: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, thu hút đầu tư nước ngoài và thu ngân sách có bước phát triển, tăng nhanh; cơ sở vật chất – kỹ thuật được tăng cường, đời sống nhân dân được cải thiện, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng được giữ vững, nội bộ Đảng đoàn kết thống nhất. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế còn yếu, đời sống của nhân dân còn thấp so với mặt bằng chung. Hội nghị đề ra một số nhiệm vụ đến năm 2005.

Quán triệt Nghị quyết số 05-NQ/TU, ngày 04-7-2000, của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về việc “Tiếp tục đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng ở các thôn trong giai đoạn hiện nay”, các tổ chức Đảng ở các thôn, xóm được kiện toàn, sắp xếp lại. Tổ chức, bộ máy của các cơ quan Đảng được tổ chức gọn nhẹ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII). Tiếp tục thực hiện nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) về tăng cường đấu tranh phê bình và tự phê bình, các cấp ủy, cán bộ, đảng viên từ tỉnh đến cơ sở nghiêm túc tự đánh gia kết quả lãnh đạo thự hiện nhiệm vụ chính trị và đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, trước hết là đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi bộ, nâng cao tính chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở đảng, đẩy mạng phát triển tổ chức Đảng và đảng viên trong các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Sau 5 năm tập trung xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, số chi, đảng bộ đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh tăng từ 59,28% năm 2001 lên 74,9% năm 2002 và 78,6% năm 2004; số cơ sở đảng yếu kém giảm từ 3,38% xuống còn 0,54%. Tỷ lệ đảng viên đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ tăng từ 47% năm 2002 lên 60,46% năm 2004.

Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng của tỉnh tiếp tuc được đẩy mạnh, trọng tâm là nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng về tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới. Gắn công tác xây dựng đảng với nhiệm vụ củng cố hệ thống chính trị. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở; tăng cường giáo dục, rèn luyện, nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Tiếp tục củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2). Nghiên cứu, cụ thể hóa các quy định của Đảng, đặc biệt là Quy định 19 về những việc đảng viên không được làm và các quy định của Chính phủ thành các quy định của địa phương để đấu tranh chống tham nhũng tiêu cực, lãng phí.

Bước vào thế kỷ XXI, để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo nhân dân trong tình hình mới, thực hiện quyết định của Trung ương, tháng 2-2001, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc quyết định thành lập Ban Dân vận Tỉnh ủy. Sau 5 năm ra đời, Ban Dân vận Tỉnh ủy đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho Tỉnh ủy về công tác dân vận của Đảng, đặc biệt là công tác dân vận và tôn giáo, góp phần cùng với các cấp chính quyền và đoàn thể chính trị vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của tỉnh.

Công tác kiểm tra, kỷ luật đảng được tăng cường một bước Đảng bộ chỉ đạo chặt chẽ việc thi hành Điều lệ Đảng, kiểm tra tổ chức và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, kịp thời phát hiệ và xử lý nghiêm minh các sai phạm. Các tổ chức Đảng từ tỉnh đến cơ sở xây dựng ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ kiểm tra Đảng ngày càng có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất và bản lĩnh đấu tranh với các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực. Uỷ ban kiểm tra các cấp tập trung giải quyết các điểm phức tạp, các vụ vi phạm pháp luật có liên quan đến cán bộ, đảng viên. Hàng năm, Đảng bộ xử lý hàng trăm đảng viên vi phạm kỷ luật từ khiển trách đến khai trừ khỏi Đảng. Trong 5 năm 2001-2005, Đảng bộ tỉnh xử lý kỷ luật 878 đảng viên, trong đó khiển trách 267, cảnh báo 284, cách chức 52, khai trừ khỏi đảng 183; xử lý kỷ luật 13 tổ chức đảng, trong đó khiển trách 7, cảnh báo 6.

Công tác phát triển Đảng được Đảng bộ tỉnh quan tâm. Trong bốn năm 2001-2004, toàn tỉnh kết nạp trên 6.000 đang viên. Tỷ lệ đảng viên mới ở độ tuổi thanh niên, đảng viên nữ, trí thức ngày càng tăng.

Thực hiện Chỉ thị số 29 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác đổi thẻ Đảng, trong năm 2004-2005, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc chỉ đạo các tổ chức Đảng làm tốt công tác đổi thẻ đảng viên vào các dịp 3-2,19-5,2-9, đồng thời tiến hành tổng kết công tác đổi Thẻ Đảng.

Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị về quy hoạch cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện nghị quyết 03 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về “ Chiến lược cán bộ đến năm 2010”, Tỉnh ủy xây dựng Kế hoạch số 12 về quy hoạch và bổ nhiệm lại cán bộ. Ban Thường vụ Tỉnh ủy có kế hoạch và tổ chức lấy phiếu tín nhiệm quy hoạch cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, tạo sự chủ động trong việc tạo nguồn cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh một cách cơ bản, lâu dài. Công tác cán bộ thực hiện đúng các nguyên tắc, quy chế, quy trình. Việc đề bạt cán bộ được tiến hành dân chủ, đúng nguyên tắc.

Để đảm bảo kịp thời tiếp tục công tác lãnh đạo của Đảng bộ, ngày 9-6-2004, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc họp đã bầu đồng chí Trịnh Đình Dũng, Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giữ chức Bí thư Tỉnh ủy thay đồng chí Chu Văn Rỵ nghỉ hưu. Ngày 1-9-2004, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc họp đã bầu đồng chí Nguyễn Ngọc Phi, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Phó Bí thư Tỉnh ủy. Ngày 21-10-2004, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc họp đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Chức, Uỷ viên Ban Thường vụ, Giám đốc Công an tỉnh giữ chức Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy thay đồng chí Nguyễn Văn Bình nghỉ hưu. Tháng 2-2005, đồng chí Tô Quang Thu và Trần Anh Dũng được bầu bổ sung vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc khóa XIII.

Thực hiện Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 19 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, việc luân chuyển cán bộ hàng năm được Ban Thường vụ Tỉnh ủy coi trọng. Đến hết năm 2003, toàn tỉnh có 22 đồng chí trong diện quản lý của Ban Thường vụ Tỉnh ủy được luân chuyển, điều động, trong đó có 2 đồng chí từ tỉnh về huyện, 9 đồng chí từ huyện lên tỉnh và 11 đồng chí luân chuyển giữa các sở, ban, nghành trong tỉnh. Thực hiện Quy định số 76-QĐ/TW của Ban Bí thư về giới thiệu đảng viên đang công tác tham gia sinh hoạt Đảng tại nới cư trú, toàn Đảng bộ có gần 10.000 đảng viên công tác trong cơ quan, đơn vị đã tham gia sinh hoạt tại các cơ sở Đảng nơi cư trú.

Quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) “Về công tác dân tộc”, “Về công tác tôn giáo”. Tỉnh ủy chỉ đạo kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế Dân chủ ở các cấp, đồng thời chú tọng tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự phân phối đồng bộ của các ngành, các cấp đối với công tác dân vận nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở địa phương.

Cùng với việc đổi mới công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ, Đảng bộ Vĩnh Phúc chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, trọng tâm là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng viên với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Các cấp ủy Đảng từng bước hoàn thiện quy chế làm việc và xây dựng cơ chế giám sát, đồng thời đề ra các quy định cụ thể kiểm tra việc triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong các cơ quan nhà nước.

Để tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ các cấp theo tinh thần Chỉ thị số 46 của Bộ Chính trị, từ năm 2004, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức Đại hội cấp huyện, xã và tương đương. Bên cạnh đó, Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy thường xuyên chỉ đạo đại hội Đảng các cấp. Các Ban xây dựng Đảng và Văn phòng Tỉnh ủy trực tiếp hướng dẫn, theo dõi diễn biến, kết quả đại hội Đảng các cấp (nhiệm kỳ 2005-2010). Đến ngày 10-11-2005, đã có 13/13 Đảng bộ trực thuộc tỉnh hoàn thành việc tổ chức đại hội. Với phương châm “Dân chủ, đoàn kết, đổi mới, trí tuệ vì sự phát triển bền vững”, đại hội Đảng bộ các cấp đã nghiêm túc đánh giá những ưu khuyết điểm, đồng thời đề ra những phương hướng phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương. Đại hội các Đảng bộ tỉnh trực thuộc tỉnh đã bầu đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV. Kết quả đạt được từ Đại hội Đảng các cấp tạo tiền đề để tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV.

Sau khi hoàn thành Đại hội Đảng bộ các cấp, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc tập trung chỉ đạo các Tiểu ban hoàn thành công tác chuẩn bị để tiến hành Đại hội Đảng bộ tỉnh. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Trung ương Đảng và kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, từ ngày 6 đến ngày 8-12-2005, tại thị xã Vĩnh Yên, Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV được tiến hành trọng thể. Tham dự Đại hội có 297 đại biểu từ 13 Đảng  bộ trực thuộc thay mặt cho 44.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đồng chí Nguyễn Văn An, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến dự và chỉ đạo Đại hội. Đến dự Đại hội còn có các đồng chí trong trong Trung ương Đảng, lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Tạp chí Cộng sản, các Ban Xây dựng Đảng Trung ương, tỉnh Bến Tre kết nghĩa và một số tỉnh, thành khác; các đồng chí nguyên lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, các đồng chí lãnh đạo cách mạng, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng…

Đại hội nêu bật những thành tựu đạt được trong 5 năm 2001-2005; kinh tế tăng trưởng cao, đứng đầu cả nước với mức tăng bình quân 15,6%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo chiều hướng tích cực, trong đó có công nghiệp – xây dựng 52,2%, giá trị sản xuất công nghiệp vươn lên vị trí thứ bảy cả nước; dịch vụ 26,6%; nông nghiệp 21,2%. GDP bình quân đầu người vượt mục tiêu của Đại hội đề ra (515 USD so với 350 USD). Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh bình quân đạt 2.076 tỷ đồng/năm. Hoạt động văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Chính quyền các cấp được kiện toàn, từng bước nâng cao năng lực quản lý, điều hành. Hoạt động của Mặt trân Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng có nhiều đổi mới góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ; năng lực lãnh đao và sức chiến đấu của các tổ chức đảng được nâng lên.

Đạt được những thành tựu trên là do Đảng bộ tỉnh, trước hết là Thường trực Tỉnh ủy và Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIII đã tạo được sự đoàn kết, thống nhất cao, vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với địa phương, biết tranh thủ thời cơ, khai thác tiềm năng, lợi thế, vượt qua khó khăn, thách thức để tập trung phát triển kinh tế - xã hội; kịp thời đề ra mục tiêu chiến lược cho sự phát triển của tỉnh; xác định hướng đi đúng, bước đi thích hợp, tìm ra các giải pháp đột phá và tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các chương trình kinh tế, xã hội. Trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành, huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước.

Bên cạnh việc khẳng định những thành tựu đạt được, Đại hôi nghiêm túc kiểm điểm và rút ra một số hạn chế; kinh tế tuy có tốc độ tăng trưởng cao, song chất lượng tăng trưởng còn hạn chế, tính bền vững và sức cạnh tranh của một số sản phẩm còn thấp, nhiều lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu. Hoạt động văn hóa, xã hội còn một số mặt bất cập, chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế; an ninh, trật tự ở một số địa phương, cơ sở còn tiềm ẩn yếu tố bất ổn định. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa cao, nội dung sinh hoạt còn chậm đổi mới.

Từ thực tiễn lãnh đạo phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2001-2005, Đại hội rút ra một số bài học kinh nghiệm:

1- Về phát triển kinh tế:

Trong quá trình lãnh đaọ, chỉ đạo, điều hành, các cấp ủy Đảng phải biết vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào điều kiện thực tế của địa phương. Phải xác định rõ được hướng đi đúng mang tính chiến lược, lâu dài; đề ra được mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể trong từng giai đoạn để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; chọn được bước đi thích hợp và tìm được giải pháp đột phá để tạo được sự phát triển nhanh và bền vững, trong đó giải pháp mang ý nghĩa quyết định là tạo môi trường đầu tư, môi trường sản xuất kinh doanh để giải phóng sức sản xuất của mọi thành phần kinh tế, thu hút các nguồn lực (bao gồm cả nội lực và ngoại lực) cho đầu tư phát triển. Điều phải hết sức chú ý là do các nguồn lực bên trong (đặc biệt là vốn đầu tư) còn nhỏ nên phải hết sức coi trọng nguồn lực bên ngoài, phải có các giải pháp thu hút mạnh vốn từ bên ngoài để đảm bảo đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

2- Về phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, giải quyết vốn tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Muốn phát triển nhanh và bền vững, đi đôi với phát triển kinh tế phải phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, bảo vệ môi trường sinh thái, chăm sóc sức khỏe nhân dân, từng bước thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Để có môi trường xã hội ổn định cho phát triển, phải tập trung giải quyết tốt các vấn đề như: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm, khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo, phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt Quy chế Dân chủ; các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể phải gần dân, sát dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, đặc biệt cần tăng cường công khai đối thoại với nhân dân, nhất là trong giải phóng mặt bằng, huy động sức dân, giữ gìn an ninh, trật tự; khi giải quyết các vấn đề phức tạp, vướng mắc phải kịp thời, mềm dẻo, linh hoạt trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích của người dân.

3- Về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, phải thường xuyên đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phát huy dân chủ trong Đảng đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật; xây dựng tổ chức Đảng mà hạt nhân là tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tăng cường xây dựng và giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đặc biệt là trong cấp ủy, Ban Thường vụ, Thường trực cấp ủy, coi đây là nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ.

Phải xây dựng được bộ máy chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và cá đoàn thể trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.

Thường xuyên chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ và hành động để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Phát huy vai trò của cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu phải có phẩm chất tốt, gương mẫu, có tầm nhìn chiến lược, năng động, sáng tạo, có tính quyết đoán cao, dám chịu trách nhiệm, sâu sát trong chỉ đạo, điều hành và có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Trên cơ sở phân tích sâu sắc những ưu, khuyết điểm và rút ra kinh nghiệm trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, phân tích nhận định những thuận lơi, khó khăn của tình hình thế giới và trong nước những năm tiếp theo, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2006-2010 và định hướng đến năm 2020.

Mục tiêu tổng quát là “Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao theo hướng ổn định, bền vững, tạo chuyển biến mạnh về chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, chủ động và chuẩn bị tốt cho hội nhập kinh tế quốc tế. Khai thác có hiệu quả các nguồn lực dầu tư cho phát triển. Đi đôi với tăng trưởng kinh tế, chú trọng phát triển văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; đẩy mạnh giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng tỷ lệ hộ giàu, kiềm chế và đẩy lùi tội phạm, tệ nạn xã hội, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đâu của Đảng, xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Phấn đấu có đủ các yếu tố cơ bản của một tỉnh công nghiệp vào năm 2015; trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm của thế kỷ XXI”.

Đại hội đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2010: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 14 -14,5%. Cơ cấu kinh tế: công nghiệp – xây dựng đạt 58,4%, dịch vụ đạt 27,3%, nông – lâm – thủy sản đạt 14,3%. GDP bình quân đầu người đạt 1.100 USD. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội 44-45 nghìn tỷ đồng. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 0,95%/năm. Giải quyết việc làm cho 24-25 nghìn người/ năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo 40-50%. Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí) dưới 10%. Kết nạp đảng viên hàng năm 1.800-1.900 đống chí. Tỷ lệ đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm chiếm 70% trở lên. Tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt danh hiệu tỏng sạch, vững mạnh hàng năm 80% trở lên.

Mục tiêu đến năm 2020, Đại hội xác định: tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2020 trên 10%/năm; GDP đầu người năm 2015 đạt 2.000 USD và đến năm 2020 đạt 3.000 USD; cơ cấu kinh tế; công nghiệp – xây dựng đạt 60%, dịch vụ đạt 37%, nông – lâm – thủy sản đạt 3%; tỷ lệ dân số đô thị đạt 55%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65%.

Để lãnh đạo hoàn thành các mục tiêu đề ra, Đại hội đề ra 9 nhiệm vụ và giải pháp:

1- Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đi đôi với nâng cao chất lượng tăng trưởng trên cơ sở đặc biệt quan tâm đến phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; lấy phát triển công nghiệp là nền tảng; đẩy mạnh phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ, trong đó lấy phát triển du lịch là mũi nhọn.

Trong phát triển kinh tế phải tập trung vào một số địa bàn có lợi thế so sánh cao để tạo ra vùng phát triển trước làm động lực lôi kéo, thúc đẩy các vùng khác phát triển.

Về sản cuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, coi phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là nhiệm vụ quan trọng. Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng toàn diện, hiệu quả, bền vững. Từng bước xây dựng nền nông nghiệp sạch phục vụ nhu cầu nội địa, các đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch và hướng vào xuất khẩu, Từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung nhằm tạo khối lượng hàng hóa lớn, có sức cạnh tranh cao. Tiếp tục triển khai các dự án cải tạo đàn bò, đàn lợn, cải tạo vùng trũng để nuôi trồng thủy sản. Quan tâm phát triển tiểu thủ công nghiệp, nghành nghề dịch vụ trong nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động tại chỗ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Củng cố và hoàn thiện mô hình hợp tác xã trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động và vị thế của hợp tác xã. Tạo điều kiện cho các hợp tác xã mở rộng hoạt động dịch vụ.

Về công nghiệp, tập trung phát triển công nghiệp và coi công nghiệp là nền tảng nhằm tạo sự tăng trưởng cao về kinh tế, kích thích các ngành dịch vụ, nông nghiệp phát triển. Phát triển công nghiệp phù hợp với quy hoạch chung của tỉnh, của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng Thủ đô và cả nước. Đảm bảo tính bền vững, đảm bảo an ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường. Phát triển công nghiệp theo hướng lựa chọn công nghệ trung bình và tiên tiến trên cơ sở ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, quan tâm các ngành công nghiệp có sử dụng nhiều lao động. Phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp mũi nhọn có sức cạnh tranh cao. Tập trung hình thành một số khu, cụm công nghiệp công nghệ cao. Chú trọng đưa công nghiệp về nông thôn, đồng thời quan tâm phát triển tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống. Tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nguồn lực của mọi thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển công nghiệp, trong đó coi trọng nguồn lực bên trong là quyết định, đồng thời hết sức coi trọng thu hút nguồn lực từ bên ngoài.

Về dịch vụ và du lịch, đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ, trong đó tập trung phát triển du lịch, đưa dụ lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Giải pháp chung cho phát triển kinh tế là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, môi trường sản xuất kinh doanh nhằm giải phóng sức sản xuất của mọi thành phần kinh tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên trong và bên ngoài đầu tư cho phát triển.

Để phát triển kinh tế, tỉnh ủy cần tập trung chỉ đạo thực hiện tốt các giải pháp cụ thể:

Một là, tập trung làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch và chuẩn bị đầu tư đi đôi với tăng cường công tác quản lý thực hiện quy hoạch, nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch, chất lượng các dự án đầu tư, tăng cường quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, khắc phục thất thoát, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng.

Hai là, chủ động quỹ đất để đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp, đồng thời khai thác giá trị từ đất đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cao hiệu quả sử dụng.

Ba là, ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật thiết yếu phục vụ sản xuất và dịch vụ.

Bốn là, quan tâm đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Năm là, xây dựng cơ chế, chính sách nhằm thu hút, ưu đãi và điều tiết đầu tư, tạo điều kiện cho các thành phàn kinh tế phát triển.

Sáu là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trước hết là thủ tục hành chính.

Bảy là, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.

2- Đẩy mạnh chương trình phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới.

- Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, xây dựng Vĩnh Phúc thành thành phố trong tương lai. Giải pháp cho phát triển đô thị là trên cơ sở quy hoạch chung, triển khai quy hoạch chi tiết đô thị mới, thường xuyên cập nhật bổ sung và điều chỉnh quy hoạch các đô thị cho phù hợp. Đồng thời nâng cấp, cải tạo và phát triển kết cấu hạ tầng như giao thông, điện, nước, xây dựng các trung tâm hành chính, khu công cộng, khu vui chơi giải trí và các công trình văn hóa xã hội cho các đô thị hiện có.

- Quan tâm xây dựng nông thôn mới, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng, các địa phương trong tỉnh. Xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, văn minh, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng, địa phương trong tỉnh.

3- Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục- đào tạo và khoa học – công nghệ.

Đẩy mạnh xã hội hóa là giải pháp cơ bản để phát triển giáo dục, đào tạo. Có cơ chế, chính sách phát triển đa dạng các loại hình trường công lập và ngoài công lập. Khuyến khích thành lập mới các trường mầm non, phổ thông, đại học, cao đẳng, dạy nghề ngoài công lập, tạo điều kện để ngày càng có nhiều học sinh tốt nghiệp trung học được tiếp tục học tiếp lên đại học, cao đẳng và học nghề. Phát triển quỹ khuyến học và các trung tâm học tập cộng đồng. Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý của các cấp giáo dục, khắc phục những mặt yếu kém, những hiện tượng tiêu cực trong giáo dục.

Đẩy mạnh các hoạt động khoa học và công nghệ, để khoa học và công nghệ thực sự là động lưc phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh nhanh việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất và đời sống.

4- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Quan tâm chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tiếp tục củng cố tuyến y tế cơ sở, bổ sung trang thiết bị và đội ngũ cán bộ. Nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, y đức của đội ngũ cán bộ y tế trong các cơ sở khám, điều trị. Đẩy mạnh công tác y tế dự phòng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền thông và dịch vụ dân số, từng bước nâng cao chất lượng dân số. Xây dựng gia đình chỉ có một hoặc hai con no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Nâng cao chất lượng xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp. Ưu tiên đầu tư cho các vùng, các địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao. Quan tâm thực hiện tốt các chính sách xã hội, đặc biệt là đối với người có công, thương binh, gia đình liệt sĩ…

5- Coi trọng phát triển văn hóa, làm cho văn hóa thật sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Chú trọng xây dựng môi trường sống, lối sống và đời sống văn hóa ở cơ sở, cộng đồng dân cư, dây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng Gia đình văn hóa, Làng văn hóa, Đơn vị văn hóa. Tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa thông tin, tạo môi trường văn hóa lành mạnh phục vụ cho việc phát triển kinh tế- xã hội.

6- Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.

Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, không ngừng nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức bảo vệ Tổ quốc cho cán bộ, nhân dân. Xây dựng lực lượng công an, quân đội theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc với phương châm tự quản, tự hòa giải. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, kiến thức pháp luật cho nhân dân. Xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật.

7- Xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, thực sự là chính quyền của dân, do dân, vì dân.

Tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp. Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, khiếu nại, tố cáo của công dân. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung, dân chủ đi đôi với phân công, phân cấp một cách hợp lý, nêu cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu, các thủ trưởng các cơ quan, đơi vị. Xây dựng đội ngũ công chức có trình độ, năng lực phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trân Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Thực hiện tốt chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Quan tâm tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo bình đẳng cùng tiến bộ. Giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc.

9- Xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chưc, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng.

Tập trung chủ yếu là xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh, đảm bảo vai trò là nền tảng, hạt nhân chính tị ở cơ sở, giữ vai tò lãnh đạo của Đảng. Mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng đi đôi với giữ vững nguyên tắc tập tủng dân chủ. Đổi mới và nâng cao chất lượng ra nghị quyết và tổ chức học tập, thực hiện nghị quyết của Đảng. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, trước hết là đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi bộ, nêu cao tính chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình. Làm tốt công tác quản lý, giáo dục đảng viên. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn đảng. Tăng cường công tác kiểm tra các dấu hiệu vi phạm. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân.

Cùng với việc tập trung kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và đề ra phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2006-2010, định hướng đến năm 2020, Đại hội XIV Đảng bộ Vĩnh Phúc còn kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ Vĩnh Phúc khóa XIII trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng. Các đại biểu tham dự Đại hội cũng đóng góp nhiều ý kiến vào bản Dự thảo Văn kiện Đại hội X của Đảng.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2005-2010 gồm 49 đồng chí và bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X gồm 14 đại biểu chính thức và 1 dại biểu sự khuyết. Ngày 7-12-2005, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, khóa XIV, nhiệm kỳ 2005-2010 tiến hành kỳ họp thứ nhất bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy gồm 12 ủy viên. Đồng chí Trịnh Đình Dũng được bầu làm Bí Thư Tỉnh ủy, các đồng chí: Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Ngọc Phi được bầu làm Phó bí thư Tỉnh ủy. Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy gồm 9 đồng chí. Đồng chí Tô Quang Thu được bầu giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy.

Sau bốn ngày làm việc khẩn trương, với tinh thần trách nhiệm cao, Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV đã thành công tốt đẹp. Đây là Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới vì sự nghiệp phát triển bền vững, thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn thể Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh. Đại hội mở ra chặng đường mới cho sự phát triển của tỉnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đưa Vĩnh Phúc sớm trở thành một tỉnh giàu có, phồn vinh.

Sau gần 10 năm tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và gần 9 năm tái lập tỉnh, thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, XIII, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo các cấp, ngành, các địa phương nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy thế mạnh của mình và khai thác mọi nguồn lực để tập trung phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội. Nhờ sự lãnh đạo sát sao, năng động của cấp ủy Đảng, chính quyền và sự lỗ lực của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, từ một tỉnh nghèo, kinh tế thuần nông, Vĩnh Phúc vươn lên trở thành một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 15%, trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng bình quân 75,5% những năm (1997-2005) và 23% những năm (2001-2005). Riêng giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 23,6%/năm và trở thành tỉnh có giá trị sản xuất công nghiệp đứng thứ bảy cả nước, thứ ba miền Bắc. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số ngành công nghiệp mũi nhọn như: cơ khí, lắp ráp ô tô, xe máy, vật liệu xây dựng… Hiện nay, Vĩnh Phúc trở thành  điểm sáng ở miền Bắc trong việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển công nghiệp. Xây dựng cơ bản được tăng cường đầu tư, trên địa bàn tỉnh hình thành các đô thị mới cao cấp và hiện đại. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: công nghiệp và xây dựng -52,2% nông nghiệp -21,2% dịch vụ -26,6%. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển đổi theo hướng đưa các cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất nhằm nâng cao thu nhập trên 1ha canh tác. Năng suất, sản lượng trong nông nghiệp và chăn nuôi ngày càng tăng về quy mô, số lượng và chất lượng. Vĩnh Phúc còn là tỉnh đi đầu cả nước trong việc ban hành chính sách miễn giảm thủy lợi phí hỗ trợ nông dân và khuyến khích sản xuất nông nghiệp phát triển, thực hiện giao đất dịch vụ cho hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp dịch vụ du lịch và đô thị. Kết cấu hạ tầng nông nghiệp nông thôn ngày cang được quan tâm đầu tư xây dựng… làm cho diện mạo Vĩnh Phúc ngày càng thay đổi tích cực. Đời sống vật chất và tình thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 240 USD năm 2000 lên 515 USD năm 2005. Số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm đi từ 12,26% năm 2000 xuống còn 5,6% năm 2005. Văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ. Vĩnh Phúc là một trong bảy tỉnh dẫn đầu cả nước về giáo dục. An ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng bộ tỉnh ngày càng trưởng thành cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Tuy nhiên, Vĩnh Phúc vẫn là tỉnh nghèo. Kinh tế tăng trưởng nhanh song chưa bền vững. Sức cạnh tranh của hàng hóa chưa cao. Đại bộ phận dân số (khoảng gần 80%) làm nông nghiệp, có thu nhập thấp. Nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội còn khó khăn. Tinh thần đấu tranh phê bình, tự phê bình và sức chiến đấu của nhiều tổ chức Đảng chưa cao. Trình độ lãnh đạo và năng lực quản lý của cán bộ còn bất cập với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

Mặc dù còn một số hạn chế song những thành tựu đạt được sau 9 năm tái lập tỉnh cùng những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới và những quyết sách tại Đại hôi Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV là hành trang để Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc cùng cả nước tiến bước vững chắc trong thế kỷ XXI.

Các tin đã đưa ngày: